CLB Pháp Duyên

CLB Pháp Duyên Fanpage do nhóm Phật tử Trúc Lâm lập ra & điều hành từ 2012 Thiền Phái Trúc Lâm là một dòng thiền Việt Nam đời nhà Trần, do Trần Nhân Tông sáng lập.

Trúc Lâm cũng là hiệu của Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là hiệu của Thiền sư Đạo Viên, tiền bối của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang. Thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam của thế kỉ thứ 12 – đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa-lưu-chi.

1. Biết vọng không theo, vì vọng tưởng là những tâm niệm hư ảo.

2. Ðối cảnh không tâm, vì nó là tướng duyên hợp giả dối tạm bợ.

3. Không kẹt hai bên, vì đối đãi là không thật.

4. Hằng sống với cái thật, không theo cái giả, vì giả là luân hồi, thật là giải thoát. Hiện nay, trang Fan Page này được điều hành bởi các Phật Tử thuần thành, là nơi chia sẻ những bài học, tài liệu, câu chuyện liên quan đến Thiền Tông và Phật Pháp sao cho gần gũi mà sâu sắc, dễ hiểu và xúc tích nhằm đem đến lợi lạc cho cộng đồng mà đặc biệt là giới trẻ.

MỘT LỜI TÂM SỰ TỪ NGƯỜI ÁO NÂU…Kính thưa quý Phật tử,Mấy ngày qua, tôi đọc và nghe nhiều câu chuyện liên quan đến những ...
13/08/2026

MỘT LỜI TÂM SỰ TỪ NGƯỜI ÁO NÂU…

Kính thưa quý Phật tử,

Mấy ngày qua, tôi đọc và nghe nhiều câu chuyện liên quan đến những người mang hình thức của người tu hành. Có những điều khiến tôi lặng người, có những việc khiến lòng mình thật sự đau.

Tôi đau không phải vì một cá nhân nào đó.

Tôi đau vì nghĩ đến hai chữ “Phật giáo”.

Bởi phía sau một chiếc áo nâu là biết bao niềm tin của người Phật tử. Là ánh mắt kính trọng của những người tìm đến chùa khi cuộc đời có quá nhiều khổ đau. Là những người mẹ, người cha gửi con mình đến cửa Phật với mong muốn con biết sống hiền lành. Là những người đang tuyệt vọng tìm một nơi bình yên để nương tựa.

Vậy nên, mỗi lời nói của người tu, mỗi hành động của người tu đều có thể trở thành một bông hoa làm đẹp đạo, nhưng cũng có thể vô tình trở thành một vết thương trong lòng người Phật tử.

Tôi cũng là người đang khoác chiếc áo tu hành.

Và tôi hiểu rằng, người tu chúng ta không phải là những người hoàn hảo. Chúng ta cũng có những lúc yếu lòng, có những lúc sơ suất, có những điều chưa làm được như lời mình học.

Nhưng chính vì biết mình còn nhiều thiếu sót, nên càng phải biết khiêm cung và tỉnh thức.

Chúng ta có thể giảng rất hay về từ bi, nhưng điều quan trọng là khi bị người khác làm tổn thương, mình có còn giữ được lòng từ bi hay không.

Chúng ta có thể nói rất nhiều về giới luật, nhưng điều quan trọng là khi không có ai nhìn thấy, mình có còn biết giữ mình hay không.

Chúng ta có thể nói về buông bỏ, nhưng điều quan trọng là khi danh lợi chạm đến, mình có thật sự buông được hay không.

Tu không phải là mặc chiếc áo khác với người đời.
Tu là học cách sống khác với những tham, sân, si của chính mình.

Tôi chỉ mong những người đang mang trên mình chiếc áo của Như Lai hãy một lần ngồi thật yên, nhìn lại chính mình và tự hỏi:

Mình đang làm cho người khác đến gần Phật hơn, hay khiến họ xa Phật hơn?

Mình đang làm sáng hình ảnh người tu, hay đang khiến người đời mất niềm tin?

Mình đang phụng sự Tam bảo, hay đôi khi đang vô tình đặt cái tôi của mình lên trên Tam bảo?

Những câu hỏi ấy có lẽ không dễ trả lời.

Nhưng người tu cần có những phút thành thật với chính mình.

Kính thưa quý Phật tử,

Nếu những ngày qua quý vị nhìn thấy những điều khiến mình buồn, xin đừng vì thế mà quay lưng với Phật pháp.

Xin đừng đánh mất niềm tin vào đạo Phật chỉ vì những khiếm khuyết của một vài con người.

Phật pháp vẫn là con đường của từ bi và trí tuệ.

Một người có thể làm điều chưa đúng, nhưng giáo pháp không vì thế mà sai.

Một người có thể đánh mất phẩm hạnh, nhưng những lời dạy của Đức Phật vẫn còn nguyên giá trị.

Và chúng ta cũng đừng dùng sự phẫn nộ để bảo vệ Phật pháp, bởi đôi khi chính sự phẫn nộ lại làm chúng ta xa rời tinh thần từ bi mà Đức Phật đã dạy.

Nếu cần lên tiếng, hãy lên tiếng bằng sự tỉnh thức.

Nếu cần góp ý, hãy góp ý bằng lòng từ.

Nếu cần phê bình, hãy nhớ rằng phía sau một con người chưa hoàn thiện vẫn là một chúng sinh đang trên đường học đạo.

Tôi viết những dòng này không phải để phán xét ai.

Tôi chỉ muốn tự nhắc chính mình.

Là người tu, xin đừng để chiếc áo mình đang mặc trở thành gánh nặng cho Phật pháp.

Xin đừng để một phút nóng giận làm tổn thương niềm tin của một người.

Xin đừng để một chút danh lợi khiến mình quên mất lý tưởng ban đầu của đời xuất gia.

Và xin đừng quên rằng:

Ngày chúng ta bước vào cửa Phật, chúng ta đã nguyện sống một đời không chỉ cho riêng mình.

Có những người nhìn vào chúng ta để tìm thấy Phật.

Có những người nghe chúng ta nói để tìm thấy niềm tin.

Có những người nhìn cách chúng ta sống để hiểu thế nào là người con Phật.

Vì vậy, giữ gìn phẩm hạnh của người tu cũng chính là giữ gìn niềm tin của chúng sinh đối với Tam bảo.

Tôi mong quý Phật tử hãy bình tâm.

Đừng tranh luận hơn thua.

Đừng chửi mắng.

Đừng dùng một điều chưa đẹp để tạo thêm nhiều điều xấu.

Hãy trở về với chính mình, thắp một nén hương, niệm một câu Phật hiệu và tự nhắc:

“Con học Phật để chuyển hóa chính mình, không phải để phán xét người khác.”

Còn với những người đang khoác áo Như Lai, tôi chỉ xin được cúi đầu nhắc nhau một câu:

Xin hãy thương Phật pháp bằng chính đời sống của mình.

Bởi một ngôi chùa đẹp chưa chắc làm người ta kính Phật.

Một bài giảng hay chưa chắc làm người ta tin Phật.

Nhưng một người tu có giới hạnh, khiêm cung, từ bi và chân thật có thể khiến một người đang đau khổ tìm lại được niềm tin vào cuộc đời.

Đó có lẽ mới là sự hoằng pháp sâu sắc nhất.

Đêm nay, tôi lại trở về với mái chùa, thắp một ngọn đèn trước Phật.

Không cầu cho ai đúng, ai sai.

Chỉ nguyện cho tất cả chúng ta, những người đang học Phật, biết soi lại chính mình trước khi soi lỗi người khác; biết cúi xuống trước khi muốn người khác cúi đầu; biết im lặng khi cần thiết và biết nói lời chân thật khi Phật pháp cần được bảo vệ.

Mong cho người tu biết giữ mình.

Mong cho Phật tử giữ được niềm tin.

Mong cho những điều chưa đẹp sớm được chuyển hóa.

Và mong cho ánh sáng từ bi của Đức Phật luôn được gìn giữ trong từng mái chùa, từng người con Phật và trong chính trái tim của mỗi chúng ta.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 🙏

— Một người khoác áo nâu, cũng đang từng ngày học cách tu sửa chính mình.

Trụ Trì Chùa Phúc Diên
Tỳ Kheo: Thích Nhựt Phú
Cẩn bút

SỰ CAN ĐẢM PHI THƯỜNG CỦA THIỀN  SƯ  THƯỜNG  CHIẾU.Hòa Thượng , Thiền Sư Thích Thanh Từ.🔴 Thiền sư Thường Chiếu họ Phạm,...
31/07/2026

SỰ CAN ĐẢM PHI THƯỜNG CỦA THIỀN SƯ THƯỜNG CHIẾU.

Hòa Thượng , Thiền Sư Thích Thanh Từ.

🔴 Thiền sư Thường Chiếu họ Phạm, quê làng Phù Ninh, không rõ năm sinh, tịch năm 1203 đời thứ 12 dòng Vô Ngôn Thông, tiểu sử của Ngài in trong quyển Thiền Sư Việt Nam trang 203 cùng tác giả.

Trước khi học thiền sư Thường Chiếu chúng ta nên biết qua vài nét đặc biệt của Ngài, vì ở Long Thành có một thiền viện mang tên Thường Chiếu.

Sở dĩ tôi lấy tên Ngài đặt tên cho thiền viện này là vì tôi rất thích ngài Thường Chiếu qua câu chuyện sau đây :
“ Một hôm Ngài báo tin sắp tịch, đệ tử Ngài là Thần Nghi thưa rằng:

🟣“Hòa Thượng cũng tịch nữa sao ?”
Ngài hỏi lại :
“Ông nói có ai không tịch ?”
Thần Nghi thưa :

🟥 “Tổ Bồ Đề Đạt Ma không tịch”.

Ngài hỏi :
“Tại sao ông biết Tổ không tịch ?”

Thần Nghi thưa :
💜 “Tổ chống gậy trở về Ấn Độ chớ không tịch”.

Ngài hỏi :
“Căn cứ vào đâu?”
Thần Nghi thưa :

🍁 “Rõ ràng vua Hiếu Trang Đế cho người dở quan tài ở núi Hùng Nhĩ thấy chỉ có một chiếc dép, còn môt chiếc Tổ đã quảy về Ấn Độ”.

Ngài bảo :

❤️ “Một con chó lớn sủa láo, bầy chó nhỏ sủa theo”.❤️

Câu nói này tôi rất tâm đắc.
Tại sao vậy ?
Vì trong Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông ấn Hoa ghi rằng :

🩷“Khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma tịch nhục thân của Ngài nhập tháp tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ.

Nhưng sau Tống Vân đi sứ Ấn Độ về gặp Tổ tại núi Thông Lãnh tay xách chiếc dép, một mình đi nhanh như bay.
Tống Vân hỏi :
“Thầy đi đâu ?”
Tổ đáp :
“Về Ấn Độ”.

Tống Vân trở về tâu việc này lên vua Hiếu Trang Đế, vua ra lệnh mở cửa tháp dở quan tài ra, thấy quan tài trống không chỉ còn một chiếc dép”.

🩷 Trong sử đã ghi như vậy thì ai dám cãi, nhưng tại sao ngài Thường Chiếu dám phủ nhận ?

Đó là một vấn đề tôi cho là hệ trọng.

🔴 Lâu nay chúng ta có cái bệnh, những gì sử sách ghi lại, những gì người xưa nói, chúng ta đều cho là chân lý.

💜 Vì cho là chân lý nên không dám cãi, ở đây ngài Thường Chiếu dám cãi, đó là chuyện lạ thường trong giới tu hành.
Vậy Ngài cãi có lỗi gì không ?
Sau đây là đoạn đối thoại giữa Phật và ngoại đạo giúp chúng ta sáng tỏ vấn đề này.

Một vị Bà La Môn hỏi Phật :
🟣 Nghe nói Gotama Ngài biết huyễn thuật và dùng huyễn thuật ấy để lôi cuốn những người ngoại đạo phải không ?

Phật trả lời :
❤️ Này Bà La Môn !
🍁 Ngươi chớ có tin điều gì do báo cáo đem lại,
🍁 chớ có tin điều gì do tin đồn đem lại,
🍁 chớ có tin điều gì do truyền thống để lại,
🍁 chớ có tin điều gì do kinh điển để lại,
🍁 chớ có tin điều gì do phù hợp với định kiến của mình,
🍁 chớ có tin điều gì do người có uy quyền nói ra,
🍁 chớ có tin điều gì do bật dạo sư chỉ dạy.

🩷 Này Bà La Môn ngươi chỉ tin những gì do chính ngươi thực sự chứng nghiệm cái đó có an lạc hạnh phúc hay không.

💜 Ở đây đức Phật dạy chúng ta đừng vội tin một việc gì dù cho kinh điển để lại. 💜

Tại sao vậy ?
Vì có vài lần tôi viết sử một vài vị thiền sư, khi viết rồi lòng tôi thấy không an, nhưng không thể viết khác được.
Chẳng hạn như khi viết sử của thầy mình chẳng lẻ viết hết những điều dở của thầy.
Giả sử hồi đó ai làm không vừa ý là thầy bực và rầy rà, thầy hết rầy người này tới rầy người kia.
Đâu có viết những điều dở của thầy mà chỉ viết những cái hay. Song, chúng ta xét kỹ là một con người ở thế gian làm sao toàn vẹn.
🍁 Do đó những điều chưa toàn vẹn của thầy người sau tô điểm cho thật toàn vẹn.
Vì viết sử là để lại những gương tốt cho đời sau con cháu đọc.
Con cháu đọc sử thấy tổ tiên mình có nhiều điều hay mà không có điều dở.

🍁 Tôi rất nể những nhà viết sử các thiền sư Trung Hoa, dám viết trung thực.
Sử thiền sư Trung Hoa có ghi một Hòa thượng (tôi không nhớ tên) sai một người đệ tử đi giữ trang trại.
Ở chùa mấy vị thân cận Hòa thượng báo cáo tiền thu huê lợi của trang trại vị ấy tiêu xài bậy bạ hết rồi.
Hòa thượng nghe qua, kêu vị tăng đó về hỏi :
Ta nghe nói tiền thu huê lợi của trang trại được bao nhiêu ngươi xài hết phải không ?
Vị tăng thưa : Dạ phải.
Hòa thượng bực tát vị tăng một bạt tai và bảo đem sổ sách lên trình.
Vị tăng đem sổ lên trình rằng khoảng này cho con gái, khoảng kia con xài vặt... ông trình như vậy, nhưng thực tế thì ông không xài gì hết, tiền vẫn còn nguyên, không sơ suất một đồng.
Chúng ta thấy người Trung Hoa họ ghi điều hay mà cũng dám ghi điều dở, còn sử những vị danh tăng Việt Nam, thấy ghi vị nào cũng hay quá, không có chút nào dở cả.

💜 Đó là chúng ta còn nhát chưa dám ghi hết sự thật.

Tôi nghĩ ai trong thời gian còn đang huân tu dù có trăm điều phải cũng có năm bảy điều quấy, không trọn vẹn tốt hết.

🧡 Chỉ có đức Phật là bật giác ngộ hoàn toàn mới không còn những điều sai trái.🧡

💜 Nếu chúng ta ghi sử mà tô điểm quá sẽ trở thành lố bịch, vì thiếu trung thực.
Cho nên ghi sử chúng ta ghi vừa phải đừng tô điểm thêm, có điều nào dở cũng ghi lại cho người sau biết để rút kinh nghiệm.
Đọc người xưa thấy ai cũng có ít phàm tình, để cho chúng ta có chút an ủi rằng ai thành thánh cũng không rời phàm.
Đọc lích sử Phật tôi thấy quá hay, đức Phật có đủ tam minh lục thông, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng... thế mà đệ tử của Ngài cũng có những vị dở chớ đâu phải Thánh hết.

🍁 Nào là lục quần tỳ kheo làm những điều không hợp đạo là tác nhân để Phật chế ra giới luật.

🍁 Nào các vị tỳ kheo tranh chấp ở Kosambi, Phật hết lời khuyên can cũng không được.

🍁 Thêm người em chú bác với Phật là Đề Bà Đạt Đa gây rối cho Phật không ít...

Như vậy để thấy rằng nội bộ tăng đoàn thời đức Phật cũng có những người sai phạm chớ không phải toàn là Thánh hết.
Tuy nhiên đối với những việc rắc rối như vậy đức Phật vẫn thản nhiên, không chán nản và thối tâm trên đường hoằng pháp lợi sanh.
Ngày nay chúng ta làm phật sự cứ mong việc mình làm phải thành công viên mãn, mong mà không được như ý hoặc làm mà gặp khó khăn thất bại thì chán nản thối tâm.
Mang tâm trạng như thế thì không thể làm phật sự ở cõi Ta bà có nhiều chúng sanh cang cường khó điều phục.
🍁 Nói như vậy để tăng ni sẽ lãnh đạo ở tương lai biết, đừng nghĩ rằng tu làm phật sự là làm việc chân chánh tốt đẹp thì sẽ gặp mọi việc như ý.
Đừng bao giờ nghĩ như vậy, mà phải nhớ rằng, dù gặp khó khăn trở ngại vẫn hăng hái tiến bước để vượt qua, đó mới là người có ý chí hoàn thành trách nhiệm của mình đối với việc lợi sanh.
Ngày xưa đức Phật và chư Tổ cũng gặp nhiều khó khăn trên con đường hoằng hóa chớ đâu có suôn sẻ.
Nhưng các Ngài thản nhiên không chán nản.

❤️ Vậy thì ngày nay chúng ta ra làm phật sự nếu gặp những điều bất như ý, phải can đảm vượt qua không than không chán, lúc nào cũng vui cười để hạnh lợi tha được viên mãn.

Làm phật sự gặp khó khăn chứng ngại mà không thối tâm thì ý chí kiên cường, tâm hạnh quên mình vì đạo mới đầy đủ.

❤️ Từ trước tôi nói hơi xa, bây giờ trở lại thiền sư Thường Chiếu, Ngài dám quả quyết rằng Tổ Đạt Ma tịch chớ không quảy dép về Ấn Độ.

💜 Ai nói Tổ quảy dép về Ấn Độ là nói láo. 💜

Vì các vị vua quan đều nói như thế, nên Ngài nói :

❤️ “Con chó lớn sủa láo , bầy chó nhỏ sủa theo”. ❤️

Vua quan là người có thế lực nên nói ai nghe cũng tin, cũng chấp nhận, nhưng thiền sư Thường Chiếu thì dám phủ nhận.
Tại sao vậy ?

💖 Vì Tổ Bồ Đề Đạt Ma tu theo phật là đệ tử của Phật, Phật 80 tuổi tịch, Tổ không tịch chẳng lẽ Tổ tu tiên ?
Đó là lý do chính đáng để chúng ta có quyền tin là Tổ đã tịch.
Hơn nữa nói rằng Tổ không tịch, vậy Ngài về ấn Độ rồi ở đâu ?
Có ai gặp Ngài không ?

🍁 Nếu không ai biết Ngài ở đâu thì chắc chắn Ngài đã tịch.

🔴 Vả lại giáo lý đức Phật dạy con người có sanh thì có tử, không bao giờ có sanh mà không có tử.

🩷 Tất cả các pháp có hình tướng có sanh thì có diệt, nếu Tổ Bồ Đề Đạt Ma có sanh mà không có tử thì trái với chánh pháp Phật dạy làm sao chúng ta tin được ?

❤️ Tôi thấy thiền sư Thường Chiếu là người can đảm phi thường dám nói thẳng, người nhút nhát sợ sệt thì không bao giờ dám nói.

💝 Vì tôi phục tính ngay thẳng của Ngài nên lấy tên Ngài đặt tên thiền viện.

🙏🙏🙏 Chư tăng ở thiền viện Thường Chiếu nhớ học theo tính độc đáo này của Ngài.

Hòa Thượng , Thiền Sư Thích Thanh Từ.
Trích trong : THI TỤNG CÁC THIỀN SƯ ĐỜI LÝ .

Đời là bể khổ, biết cách đón nhận thì bớt khổ ☺️
16/05/2026

Đời là bể khổ, biết cách đón nhận thì bớt khổ ☺️

14/05/2026

Review chuyến tu học tại Thiền Viện Trúc Lâm Bạch Mã, Huế.

Trong luận nói rằng có người quyết tâm cầu Phật đạo thì phải tu pháp gì ngắn gọn mà lại là quan trọng nhất. Tổ đáp chỉ c...
03/05/2026

Trong luận nói rằng có người quyết tâm cầu Phật đạo thì phải tu pháp gì ngắn gọn mà lại là quan trọng nhất. Tổ đáp chỉ có pháp quán tâm thôi. Quán tâm là quan trọng nhất, ngắn gọn nhất. Vì một pháp này hay nhiếp tất cả pháp. Lại hỏi sao chỉ có một pháp mà hay nhiếp tất cả pháp? Tổ đáp vì tâm là cội gốc của muôn pháp. Tất cả pháp gì cũng đều từ tâm mà sanh ra. Nếu hay rõ xong được tâm thì muôn pháp đều đầy đủ. Giống như cây to, cành, lá, hoa, trái đều gốc từ nơi rễ, chặt cây mà bỏ rễ thì cây chết, còn rễ thì sẽ mọc cây con, để chỉ cho tâm là cội gốc tất cả. Thiền tông nói: “Trực chỉ nhân tâm” là như vậy. Nghĩa là đi thẳng vào trong tự tâm của mình, đó là căn bản nhất.
Bởi vì kiểm lại, Tam tạng kinh điển từ đâu mà có? Ngoài tâm mà có được không? Bao nhiêu kinh điển nói ra cũng đều vì trị tâm bịnh thôi. Nhất là cũng từ tâm mà nói ra. Ví như Phật chứng ngộ được rồi cũng từ tâm giác ngộ của Ngài mà nói ra. Cho nên, mình tu là soi trở lại ngay tự tâm mình là cái gốc, cái ngắn gọn nhất. Còn không biết rồi cứ phân biệt trên các pháp thì sẽ rối rắm, rồi có khi nghi ngờ. Thấy người này nói pháp này hay, người kia nói pháp kia hay v.v…, rồi theo đó phân biệt cái này hay, kia dở, rốt cuộc chạy theo tâm phân biệt. Thí dụ người tu Thiền nói tu Thiền hay, người tu Tịnh Độ nói Tịnh Độ thẳng tắt nhất, người tu Mật tông nói Mật tông “tức thân thành Phật”, Thoại đầu nói Thoại đầu số một. Mình không biết cái nào hay rồi cứ trên ngọn phân biệt cao thấp, thành ra cũng nằm trong tâm phân biệt.
Ở đây mình nhắm thẳng trở lại tự tâm là gốc. Bởi vì xét cho kỹ khi khởi phiền não thì cái gì khởi? Ngoài tâm lấy gì khởi phiền não? Giác ngộ thì lấy cái gì giác? Ngoài tâm cũng không thể lấy cái gì giác. Nếu ngoài tâm có cái gì giác thì cái đó là cái giác trong sách vở hoặc cái giác của người nào khác, của Phật, Tổ thôi, không phải của mình. Cho nên, giác cũng từ tâm mà giác, mê cũng từ tâm mà mê. Khi thành đạo hay giải thoát thì cũng từ tâm mà thành đạo hay giải thoát. Gốc là từ tâm. Thấy vậy thì mình tu hành có căn bản.

(Lời Giáo Huấn H T. Thích Thông Phương)

Tại sao chư Tăng không được cúng dường nhục thân Như Lai?- Thưa đại đức! Có phải trước khi nhập diệt, ở Kusinàrà, dưới h...
28/04/2026

Tại sao chư Tăng không được cúng dường nhục thân Như Lai?

- Thưa đại đức! Có phải trước khi nhập diệt, ở Kusinàrà, dưới hai cây song thọ, Đức Thế Tôn có dạy ngài Ànanda rằng: "Các ngươi không nên mất công tốn sức, phí thì giờ tìm kiếm lễ vật để cúng dường nhục thân của Như Lai; cho chí xá-lợi của Như Lai sau này, các ngươi cũng không nên quan tâm quá đáng vào việc lễ bái, cúng dường..." ?

- Đúng là Đức Thế Tôn có thuyết như thế, tâu đại vương!

- Rồi sau đó, Đức Tôn Sư lại thuyết rằng: "Này Ànanda! Nếu các hàng cận sự nam nữ trong cõi người hoặc chư thiên trong các cõi trời, biết lễ bái, cúng dường nhục thân Như Lai hay xá-lợi của Như Lai thì họ sẽ có được nhiều phước báu, nhất là được thiện sanh vào các cõi trời an vui, hạnh phúc." Phải thế không, đại đức?

- Thưa vâng! Đó chính là lời Đức Tôn Sư thuyết.

- Vậy thì hai Phật ngôn ấy có gì ngược nhau không? Một bên thì ngăn không cho tìm kiếm lễ phẩm cúng dường, một đằng thì khuyến khích, sách tấn lễ bái, cúng dường? Hay Đức Đại Giác huấn thị như vậy là có lý do khác?

- Tâu đại vương! Lý do ấy rất là chính đáng, hợp với giáo pháp, hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi nhóm thành viên đệ tử của Đức Tôn Sư!

- Xin đại đức bi mẫn giảng cho trẫm nghe.

- Thưa vâng, điều ấy giản dị, dễ hiểu thôi! Các hàng xuất gia tu tập theo Giới, Định, và Tuệ. Tu tập theo Giới, Định, Tuệ là bổn phận, là chức năng, là nhiệm vụ của người xuất gia. Vậy thì các hàng xuất gia phải sống đời giới hạnh trang nghiêm, biết thu thúc lục căn, biết quán tưởng vật thực, biết tu Tứ niệm xứ để thấy rõ vô thường, vô ngã của pháp, phải thành tựu tuệ vô lậu để giải thoát khổ đau, phiền não. Việc làm ấy của bậc xuất gia là bổn phận thích đáng, xứng với phẩm hạnh của mình. Ngoài ra, các công việc khác dẫu là trọng đại, tôn quý... như việc cung kính, lễ bái, cúng dường nhục thân hoặc xá lợi của Đức Thế Tôn - cũng không nên làm!

Còn các hàng cư sĩ tại gia, chư thiên và nhân loại, họ tu tập theo bố thí, trì giới, tham thiền. Tu tập theo bố thí, trì giới, tham thiền là bổn phận, là chức năng, là nhiệm vụ của hàng cư sĩ tại gia! Vậy thì các hàng tại gia muốn tạo trữ phước báu, muốn tích lũy công đức, muốn hưởng quả hạnh phúc, an vui ở cõi người và trời - họ phải tu tập, bố thí, cúng dường. Việc các hàng cư sĩ tại gia lễ bái, cúng dường lễ phẩm, hương hoa đến nhục thân hoặc xá lợi của Đức Thế Tôn là bổn phận thích đáng, xứng với chức năng của họ. Ai có công việc nấy, đừng xen vào công việc của nhau - nói rõ là như thế, tâu đại vương!

- Trẫm không đồng ý với luận điểm của đại đức, mặc dầu mới nghe qua thì rất hợp lí. Nếu các bậc xuất gia mà tu tập thêm bố thí, cúng dường, không tốt hơn sao? Khi mà được phước báu hỗ trợ, có lẽ họ sẽ dễ dàng, thuận duyên hơn cho việc tu tập của mình, phải thế chăng, đại đức?

- Bần tăng cũng vậy, luận điểm của đại vương nghe rất hữu lí nhưng bần tăng vẫn thấy không thuận tai! Tại sao vậy? Ví như đại vương có một hoàng tử kế vị, muốn cho hoàng tử ấy sau này trở thành một bậc minh quân trị vì thiên hạ, oai danh bốn biển, vang lừng sử sách thì đại vương sẽ có một chương trình học tập cho hoàng tử như thế nào?

- Thưa đại đức, thì cũng như chương trình học tập của trẫm thuở nhỏ vậy thôi, nghĩa là phải trang bị cho hoàng tử những kiến thức hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình. Hoàng tử phải thành thục, thông thuộc binh pháp, binh thư, võ nghệ; phải biết cưỡi voi, cưỡi xe, cưỡi ngựa, biết sử dụng mọi loại binh khí để chiến đấu trên sa trường. Nói gọn, là hoàng tử phải có tài làm tướng. Ngoài ra, hoàng tử phải học cách trị thiên hạ, đòi hỏi nhiều kiến thức uyên bác; ví dụ triết học, toán học, thiên văn, địa lý, âm nhạc, y khoa, khảo cổ, lịch sửu, vật lý, văn học, thi ca v.v... Ngay cả thần chú, chiêm tinh, tử vi, bói toán; một vị hoàng tử cũng phải rành rẽ để sử dụng khi hữu sự, để khỏi bị các quan và dân chúng lừa bịp!...

Đại đức Na-tiên mỉm cười hỏi tiếp:

- Thế các việc như làm ruộng, làm vườn, buôn bán, nghề mộc, nuôi tằm, ươm tơ, chăn nuôi gia súc v.v..., vị hoàng tử không học sao?

- Không, hoàng tử sẽ không học, không đi sâu vào các nghề của dân chúng. Hoàng tử chỉ nghiên cứu thoáng qua cho biết vậy thôi. Bởi, ai có việc nấy, xen vào việc của nhau thì còn ra thể thống gì nữa? Hoàng tử mà đi học cày, còn nông phu thì học cách trị nước, nghe lọt tai sao được, đại đức?

- Cảm ơn đại vương đã trả lời câu hỏi của chính đại vương! Thật là còn "thể thống" gì nữa cho giáo pháp, khi mà bậc xuất gia thì đi làm cái việc của người cư sĩ, còn người cư sĩ lại đi làm cái việc của bậc xuất gia!

Đức vua Mi-lan-đà cười ha hả:

- Hay lắm! Thật chẳng có câu nói nào xác đáng hơn!

- Còn nữa, đại vương! Ví như một con trai gia chủ bà-la-môn, muốn trở thành một bà-la-môn hữu danh trong tương lai thì cần phải học những thứ gì cho thật sự thích hợp và thật sự lợi ích?

- Thưa đại đức! Họ cần học nhiều thứ lắm, những điều hữu ích và kể cả những điều dường như vô ích... Họ phải thông thuộc Tam-phệ-đà, biết phúng tụng, lễ nghi, đàn tế. Biết xem tướng, biết hướng ngồi ăn cơm và hướng đại tiểu tiện. Biết xem hướng nhà, xem hướng đất. Biết rành về các loại gỗ. Biết từ nguyên, cú pháp, văn phạm. Biết tiếng kêu của thú. Biết ngọn ngành, chi tiết của sáu nghề chính trong xã hội. Biết hướng mặt trời, mặt trăng chỗ nào là tốt xấu. Biết rõ lúc nào là nhật thực, nguyệt thực. Biết sao nào sanh ra chư thiên, sanh ra chiến tranh. Biết lúc nào sao chổi rơi. Biết tia lửa từ hư không rơi xuống rồi lại bay lên khỏi mặt đất sẽ báo điềm xấu gì. Biết xem khi nào trái đất xảy ra tai biến. Biết rõ mặt trời đỏ là hướng này hạnh phúc, hướng kia bất hạnh, tai họa. Biết rõ tất cả những bộ sách đời (thế học). Biết rõ phép bói "mitta cakkam"! Biết đoán chiêm bao, biết rõ tướng bí ẩn. Biết đoán mộng cát, hung. Biết đoán những hiện tượng tốt xấu xảy ra chung quanh. Biết xem và trị bệnh mắt. Nghe tiếng chim biết chuyện lành, dữ v.v...

Thưa đại đức! Những con trai gia chủ bà-la-môn hữu danh phải siêng năng học tập, nghiên cứu rành rẽ rất nhiều môn học, như thế mới xứng đáng ở trong tập cấp ấy.

- Vâng, còn người dân dã hạ tầng thì không thể học tập như vậy, phải không đại vương?

- Đúng thế, các tập cấp dưới chỉ thích hợp với các nghề bán buôn, làm ruộng, lập vườn, chăn nuôi trâu bò và các công nghệ khác.

- Cũng vậy, phận sự của các vị sa môn là thọ trì những điều học, phải tinh cần, chuyên tâm tu niệm, hành minh sát tuệ để giác ngộ, giải thoát. Còn phận sự của các hàng cư sĩ là lễ bái, bố thí, cúng dường... Vì lẽ ấy, Đức Thế Tôn ngăn cấm các vị xuất gia làm công việc của hàng tại gia... Các bậc xuất gia phải thực hành bổn phận mình, tức là tiến tu, chỉ tịnh, quán minh thì tốt hơn; nếu không muốn nói đấy là cách cúng dường quý báu, cao thượng hơn hết thảy: cúng dường tinh thần hay là cúng dường Pháp Bảo! Còn việc cúng dường vật chất hãy để dành cho các hàng tại gia. Có như vậy, Tăng Bảo mới duy trì Giáo Pháp lâu dài trên thế gian; và cư sĩ nam nữ lại hộ trì, hộ độ Tăng Bảo... thì đấy là lợi ích thù thắng mà Đức Tôn Sư muốn giáo giới, tâu đại vương!

- Trẫm rất hoan hỷ những lời giải đáp ấy, thưa đại đức!

Trích trong: Mi Tiên Vấn Đáp
Cố Hoà Thượng Giới Nghiêm dịch
Chia sẻ bởi: Thực Hành Giáo Pháp

Buông không phải là bỏ mặc, mà là không giữ lại những điều làm mình nặng lòng. Muộn phiền vốn không lớn, chỉ vì ta nắm c...
21/04/2026

Buông không phải là bỏ mặc, mà là không giữ lại những điều làm mình nặng lòng. Muộn phiền vốn không lớn, chỉ vì ta nắm chặt nên nó mới thành gánh nặng. Càng suy nghĩ, càng tiếc nuối, càng muốn đúng – thì càng tự trói mình trong chính cảm xúc của mình.
Đến một lúc, học cách buông xuống, không phải vì yếu đuối, mà vì đã đủ hiểu: có những chuyện không đáng để mang theo. Khi buông được, lòng nhẹ lại, thở cũng nhẹ hơn. Và rồi mới thấy… bình an không ở đâu xa, chỉ là mình chịu đặt xuống hay chưa.
-- Thích Pháp Hòa --

Ngồi lặng yênMột nghiên cứu tại Đại học Virginia công bố năm 2014 để lại kết quả khiến các nhà khoa học phải đọc lại nh...
19/04/2026

Ngồi lặng yên

Một nghiên cứu tại Đại học Virginia công bố năm 2014 để lại kết quả khiến các nhà khoa học phải đọc lại nhiều lần. Khi đặt người tham gia trong một căn phòng trống, không điện thoại, không sách báo, chỉ ngồi một mình với suy nghĩ của chính mình trong mười lăm phút, sáu mươi bảy phần trăm đàn ông và một phần tư phụ nữ đã chọn tự giật điện vào bản thân để có gì đó làm, thay vì đối diện với im lặng.

Điện giật đau. Im lặng không đau. Nhưng có những loại đau không nằm ở da thịt.

Người La Mã cổ có một từ riêng cho trạng thái không làm gì mà không nhàm chán: otium. Đó là khoảng thời gian được coi là cao quý nhất trong đời một quý tộc, bởi chỉ khi không bị công việc cuốn đi, con người mới gặp được chính mình. Các triết gia Khắc kỷ xem khả năng ngồi một mình mà không bất an là dấu hiệu của một tâm hồn giàu có bậc nhất. Giàu không phải vì có nhiều, mà vì không cần thêm.

Hai ngàn năm sau, khảo sát hành vi di động cho thấy trung bình một người chạm vào điện thoại hơn hai nghìn lần mỗi ngày. Khoảng ba đến bốn giây một lần trong lúc thức. Điện thoại không chỉ là công cụ, nó là lối thoát. Thoát khỏi cái gì thì mỗi người tự biết.

Đức Phật gọi trạng thái tâm trí không yên đó là con khỉ chuyền cành. Khỉ không ngồi yên bao giờ. Hễ thấy cành này thì muốn chuyền sang cành khác, thấy quả này thì muốn với quả khác. Tâm trí con người được cấu tạo đúng như vậy, chỉ khác là bây giờ có quá nhiều cành, và mỗi cành đều lấp lánh đèn.

Nhưng có một điều kỳ lạ mà các thiền sư đã biết từ lâu và khoa học thần kinh mới xác nhận gần đây. Khi một người ngồi yên đủ lâu với sự bất an của chính mình, sự bất an ấy tự rã ra. Nghiên cứu của Judson Brewer về chánh niệm cho thấy sau vài tuần thực hành đều đặn, mạng lưới mặc định của não bộ - phần chịu trách nhiệm cho những dòng suy nghĩ miên man và lo lắng - giảm hoạt động rõ rệt. Người ta không bớt suy nghĩ. Người ta chỉ bớt bị suy nghĩ kéo đi.

Pascal, cách đây gần bốn trăm năm, đã viết một câu gây ám ảnh: mọi bất hạnh của con người đều đến từ một việc duy nhất, là không biết ngồi yên một mình trong phòng. Ông viết câu đó trước khi có tivi, trước khi có internet, trước khi có thứ gì trong túi kêu tít liên tục. Ông viết câu đó vào cái thời mà giải trí lớn nhất của một buổi tối là nhìn lửa trong lò.

Nếu Pascal nói vậy về thời của ông, thì thời này ông sẽ nói gì.

Một đứa trẻ ba tuổi có thể ngồi nhìn một đàn kiến mười lăm phút không chán. Người lớn không chịu nổi đèn đỏ ba mươi giây mà không rút điện thoại. Đâu đó trên đường từ ba tuổi đến ba mươi tuổi, khả năng ở với hiện tại đã rơi rớt lại dọc đường. Không phải vì tuổi, mà vì đã học được rằng có chỗ khác luôn hấp dẫn hơn chỗ đang đứng.

Im lặng không phải là sự thiếu vắng âm thanh. Im lặng là sự có mặt của chính mình.

Và thứ đó, hóa ra, lại là thứ đắt nhất mà người hiện đại đang không mua nổi.

Uống nước nhớ nguồn 💧Người xưa có câu: “Ẩm thủy tư nguyên”. Chữ “Ẩm” (飲) là uống, “Thủy” (水) là nước, “Tư” (思) là nhớ ng...
19/04/2026

Uống nước nhớ nguồn 💧

Người xưa có câu: “Ẩm thủy tư nguyên”. Chữ “Ẩm” (飲) là uống, “Thủy” (水) là nước, “Tư” (思) là nhớ nghĩ, và “Nguyên” (源) chính là cội nguồn. Câu này rất giản đơn, ai trong chúng ta cũng thuộc nằm lòng: “Uống nước nhớ nguồn.”

Khi các vị cầm một ly nước lên, các vị thấy gì? Nếu chỉ thấy chất lỏng để giải khát, thì đó là cái nhìn của bản năng. Còn người tu học, khi nhìn vào ly nước, phải thấy được “nguồn”. Cái nguồn ấy không chỉ là cái giếng, là dòng sông, mà là cả một sự vận hành của đất trời. Có mây mới có mưa, có nắng mới có hơi nước, có lòng đất chắt chiu mới có mạch nước ngầm.
Trong một ngụm nước ta uống, có cả mồ hôi của người đào giếng, có cả sự nhọc nhằn của người “dẫn thủy nhập điền”. Cho nên, uống một ngụm nước mà tâm không biết ơn, thì ngụm nước ấy chỉ làm mát cổ họng thôi, chứ không nuôi lớn được tâm hồn.

Chúng ta có mặt ở đây, không phải tự nhiên mà có. Chúng ta có thân này, là nhờ Cha Mẹ – đó là nguồn ; Chúng ta có kiến thức, có đạo hạnh, là nhờ Thầy Tổ – đó là nguồn ; Chúng ta có cơm ăn, áo mặc, có hoàn cảnh bình yên để ngồi đây tu tập, là nhờ đất nước, xã hội và chúng sinh – đó chính là nguồn.

Cái cây mà lìa xa gốc rễ thì sớm muộn gì cũng héo khô. Con người mà quên đi gốc gác, quên đi ân nghĩa thì cái tâm ấy cũng dần trở nên cằn cỗi. Người biết “tư nguyên” – biết nhớ về nguồn – là người đang nuôi dưỡng cái Gốc phước đức của chính mình.

Khi các vị về nhà, rót cho cha mẹ chén trà với tâm trân trọng, đó là “tư nguyên”. Khi chúng ta giữ gìn nếp sống đạo đức, không làm hoen ố thanh danh của tổ tiên, thầy tổ, đó chính là “tư nguyên”.

Chúng ta biết rằng sống trên đời, cái gốc của phước đức chính là lòng tri ân. Thế nhưng, có một điều quan trọng hơn mà người học Phật cần phải tỉnh giác: Đó là chúng ta tiếp nhận dòng nước ấy bằng cái tâm thế nào? Cổ đức có dạy một câu rất sâu sắc: “Xà ẩm thủy thành độc, ngưu ẩm thủy thành nhũ.” (Con rắn uống nước thì hóa thành nọc độc, con bò uống nước lại hóa thành sữa thơm).

Các vị hãy nhìn xem, dòng nước vốn dĩ là trong ngần, là bình đẳng, không phân biệt cao thấp, không có ý định làm hại hay nuôi dưỡng ai. Nước từ nguồn chảy ra vốn mang tính “thanh tịnh”. Nhưng tại sao khi đi vào cơ thể mỗi loài, nó lại cho ra kết quả khác nhau đến vậy?

Chúng ta biết cái tâm của loài rắn, nó tiếp nhận trong sự oán hận. Nếu chúng ta sống bằng cái tâm quanh co, đầy rẫy sự đố kỵ, tham lam và sân hận giống như loài rắn, thì dù chúng ta có thọ nhận bao nhiêu ân huệ, bao nhiêu sự giúp đỡ, ta cũng dễ dàng biến chúng thành “độc tố”.

Có những người, cha mẹ nuôi nấng hết lòng, thầy tổ dạy bảo tận tình, nhưng trong lòng họ chỉ thấy sự đòi hỏi. Họ nhận ơn mà lòng vẫn oán trách, họ học đạo nhưng lại dùng cái hiểu biết đó để bới lông tìm vết, để hạ thấp người khác. Đó chính là hành động “uống nước hóa độc”. Cái nọc độc ấy trước hết làm thiêu cháy tâm can của chính họ, rồi sau đó mới “phun ra” làm tổn thương những người xung quanh.

Còn loài bò, vốn mang đặc tính hiền lành, nhẫn nại và phụng sự. Khi con bò uống dòng nước mát, nó không giữ cho riêng mình. Nó chuyển hóa dòng nước ấy, cùng với những nhúm cỏ khô cằn, trở thành những dòng sữa ngọt ngào để nuôi dưỡng sự sống.
Người biết tu tập là người biết học hạnh của loài bò. Chúng ta nhận một bát cơm của đàn na tín thí, nhận một lời chỉ dạy của thiện tri thức, ta phải biết ấp ủ, biết chuyển hóa chúng thành hành động vị tha, thành lời nói ái ngữ, thành một cuộc đời có ích. Đó chính là chúng ta đang tạo ra “nguồn sữa” phước đức để tưới tẩm cho cuộc đời này.

Ngay giây phút này, chúng ta hãy quán chiếu. Nếu thấy lòng mình còn hẹp hòi, hãy tập buông xả để dòng nước ân nghĩa không bị biến tính. Đừng để những ân tình của cha mẹ, thầy tổ chảy vào lòng mình rồi lại biến thành sự kiêu mạn hay oán hờn. Hãy học cách đón nhận bằng tâm khiêm hạ, để mỗi giọt nước chúng ta uống vào đều trở thành những giọt sữa cam lộ, làm tươi mát cho chính mình và cho cả thế gian.

Trên tinh thần tu tập, hãy ý thức mỗi bước chân chúng ta đi trên mặt đất này, hãy đi bằng tâm niệm tri ân. Khi ta biết ơn, tự nhiên lòng ta thấy nhẹ nhàng, bớt đi những đòi hỏi, bớt đi những sân si. Bởi ta biết rằng, tất cả những gì ta đang có đều là ân huệ, là sự ban tặng từ mạch nguồn của cuộc đời. Mong đại chúng, mỗi khi uống một hớp nước, hãy dừng lại một giây thôi, để cái tâm mình tìm về với nguồn cội. Có như vậy, sự tu học của chúng ta mới có rễ, có gốc và mới trổ được hoa trái bình an.

Xin hãy quán niệm !

(Trích Pháp Ngữ Thầy Định Thành)

————————————
“Biển công đức vô lượng như thế
Con xin hồi hướng không giữ lại
Nếu có chúng sanh nào dại dột
Bằng thân, bằng ý hoặc bằng lời
Bài báng phá hoại đạo giải thoát
Xin cho nghiệp chướng được tiêu trừ.

Mỗi giây, trí tuệ trùm pháp giới
Độ khắp mọi loài lên bất thoái
Hư không, chúng sanh không cùng tận
Phiền não, nghiệp báo không cùng tận
Bốn thứ kể trên thật vô biên
Hồi hướng của con cũng như thế.”
_____________________________________

"Nguyện người được pháp này
Hoặc lấy hay là bỏ
Nghe qua kết thành duyên
Hoặc thuận cùng với nghịch
Đều nhờ đây chuyển hóa."

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CLB Pháp Duyên posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category