Avalokitesvara Festival/ Lễ hội Quán Thế Âm - Marble Mountains Da Nang

  • Home
  • Vietnam
  • Da Nang
  • Avalokitesvara Festival/ Lễ hội Quán Thế Âm - Marble Mountains Da Nang

Avalokitesvara Festival/ Lễ hội Quán Thế Âm - Marble Mountains Da Nang Hội những người yêu thích Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn (ĐN), di sản văn hoá phi vật thể quốc gia

CHUYỆN THỨ NĂMCON SUỐI ĐỤC(Truy Nguyên Đoạn Lưu)Làng Đông Sơn bỗng có nước giếng đục.Người đổ lỗi nhà nhuộm vải.Người tr...
13/09/2026

CHUYỆN THỨ NĂM
CON SUỐI ĐỤC
(Truy Nguyên Đoạn Lưu)

Làng Đông Sơn bỗng có nước giếng đục.

Người đổ lỗi nhà nhuộm vải.

Người trách lò gốm.

Hai nhà suýt đánh nhau.

Lý trưởng Hòa Phong không xử ngay. Ông lần theo dòng nước lên núi.

Nửa ngày sau, ông trở về, quần đầy bùn.

Dân hỏi:
Bắt được thủ phạm chưa?
-Rồi.
-Ai?
-Trời mưa.

Mọi người ngẩn ra.

Một trận lở đất nhỏ phía thượng nguồn đã làm bùn chảy vào mạch nước.

Ông cười:
May mà ta đi xem. Nếu ngồi đây xử, ngày mai làng mất nhà nhuộm, mất lò gốm mà nước vẫn đục.

KỆ
Thấy nước cuối dòng chớ vội phân,
Ngược nguồn mới rõ chuyện xa gần.
Đời nhiều tranh chấp vì nhìn ngọn,
Tìm đến căn nguyên hóa oán sân.

CHUYỆN THỨ SÁU
KHÔNG HỎI LÒNG NGƯỜI
( Dĩ Chính Phá Tà)

Một người bị bắt quả tang sửa số trong sổ thuế.

Quan huyện hỏi Tống Minh, người phát hiện:
Theo ngươi, hắn có phải kẻ gian không?

Tống Minh đáp:
Tôi không biết lòng hắn.

-Vậy ngươi biết gì?

-Tôi biết con số này đã bị sửa. Đây là bản cũ, đây là bản mới, đây là người chứng kiến.

Quan hỏi:
Ngươi không giận hắn?

-Có. Nhưng cơn giận của tôi không phải chứng cứ.

Cả công đường im lặng.

Quan huyện gật đầu:
Người xét việc mà không tự cho mình quyền xét tâm người, ấy mới khó.

KỆ
Việc sai cứ việc chỉ cho minh,
Chớ lấy sân tâm đoán tính tình.
Một chứng chân thành hơn vạn mắng,
Phá điều bất chính, chẳng công kích.

CHUYỆN THỨ BẢY
CÁI BÀN THỨ BA
( Tá Pháp Hộ Thân )

Hai chủ hiệu tranh nhau lối đi chung.

Ba tháng cãi nhau.

Một người nói đất của tổ tiên.

Người kia nói đã dùng hai mươi năm.

Cuối cùng, bà chủ quán bánh bên cạnh nói:
Hai ông đứng hai bên đường cãi mãi. Sao không ngồi vào cái bàn thứ ba?

-Bàn nào?

-Bàn của người không thuộc bên nào.

Họ mời người đo đất, xem địa bạ và nhờ hội đồng trong trấn làm chứng.

Hai ngày sau, ranh giới được xác định.

Một chủ hiệu thở dài:
Biết thế làm từ đầu.

Bà bán bánh đáp:
Nếu làm từ đầu thì ba tháng qua tôi bán bánh cho ai xem hai ông cãi?

Cả hai phá lên cười.

KỆ
Việc công cứ phép định phân minh,
Chẳng để tư tâm dẫn bất bình.
Hai phía tranh nhau không thấy lối,
Bàn ba đặt xuống hóa yên tình.

CHUYỆN THỨ TÁM
BA CÁI GIỎ
( Hư Thực Phân Minh )

Tĩnh Sơn tiên sinh đặt trước học trò ba chiếc giỏ.

Giỏ thứ nhất ghi:
BIẾT.

Giỏ thứ hai:
ĐOÁN.

Giỏ thứ ba:
CHƯA BIẾT.

Ông hỏi:
Đêm qua kho thuốc mất một bình nhân sâm. Các con biết gì?

Tử Nghi đáp:
Con thấy cửa kho mở.

-Bỏ vào “Biết”.
-Con nghĩ người làm vườn lấy.
-Bỏ vào “Đoán”.
-Ai thực sự lấy?
-Chưa biết.
-Bỏ vào giỏ thứ ba.

Đúng lúc ấy, Minh Viễn từ ngoài bước vào, tay cầm bình nhân sâm:
Hôm qua thầy bảo con mang xuống bếp sắc thuốc cho cụ già dưới núi.

Tử Nghi nhìn ba chiếc giỏ, thở dài:
May quá. Suýt nữa con đem cái giỏ “Đoán” úp lên đầu người làm vườn.

KỆ

Điều biết phân minh với đoán mò,
Chưa tường cứ để đó mà dò.
Bao phen oan trái sinh trong thế,
Chỉ bởi nghi ngờ hóa chuyện to.

Thái Huyền
🙏🏻🌺🙏🏻🌺🙏🏻

Khi sử dụng hoặc trích dẫn, vui lòng ghi rõ nguồn và tên tác giả.
🌺🌸🌺🌸🌺
🙏🏻 Bản quyền câu chuyện thuộc về Thái Huyền. Khi sử dụng hoặc trích dẫn, vui lòng ghi rõ nguồn và tên tác giả.
🌺 Xin Bạn Đọc Lưu Ý :
Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính văn chương, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, Truyền Thông hay tin tức báo chí.
Xin Kính Tri Ân Quý Vị

( Một số hình ảnh sưu tầm trên mạng )
🙏🏻🌺🙏🏻🌺🙏🏻

11/09/2026
CHUYỆN THỨ BACHIẾC HỘP KHÔNG CÓ GÌ( Bế Môn Tàng Cơ )Thợ mộc Từ Viễn được giao thiết kế cây cầu mới.Một người tên Đỗ Tam ...
11/09/2026

CHUYỆN THỨ BA
CHIẾC HỘP KHÔNG CÓ GÌ
( Bế Môn Tàng Cơ )

Thợ mộc Từ Viễn được giao thiết kế cây cầu mới.

Một người tên Đỗ Tam ngày nào cũng đến hỏi:
Cầu đặt trụ ở đâu?

-Chưa định.
-Dùng loại gỗ nào?
-Còn xét.
-Bao giờ mua?
-Chưa biết.

Đỗ Tam tức:
Ông làm cầu mà cái gì cũng không biết?

Từ Viễn cười:
Biết chứ. Nhưng ông đâu có làm cầu.

Sau này người ta mới phát hiện Đỗ Tam định biết trước nơi mua gỗ để gom hàng, nâng giá bán lại.

Khi Từ Viễn công bố thiết kế, gỗ đã được mua xong theo đấu giá công khai.

Đỗ Tam than:
Ông giấu kỹ thật!

Từ Viễn đáp:
Tôi chẳng giấu điều gì thuộc việc công. Tôi chỉ không kể việc chưa cần kể.

Rồi ông chỉ cái miệng:
Cửa nhà có khóa. Cái này đôi khi cũng nên có.

KỆ
Cơ chưa đến lúc chớ phô bày,
Một tiếng vô tâm họa đến ngay.
Giữ miệng chẳng đồng tâm hiểm trá,
Cửa cần then khóa mới an thay.

CHUYỆN THỨ TƯ
AI CŨNG NÓI - NHƯNG “AI” LÀ AI?

Vấn Ngôn Hiển Ý

Trong học đường, có người đến bảo thầy Văn Khiêm:
Thưa thầy, ai cũng nói cách dạy của thầy có vấn đề.

Văn Khiêm hỏi:
“Ai” là ai?

-Thì… nhiều người.

-Bao nhiêu?

-Khá nhiều.

-Ba người?

-Không hẳn.

-Hai?

Người kia bắt đầu lúng túng.

Cuối cùng thú nhận:

-Có… một người.

-Là ai?

-Là tôi.

Văn Khiêm mỉm cười:
Vậy câu đúng phải là: “Tôi thấy cách dạy của thầy có vấn đề.”

Người kia đỏ mặt.

Văn Khiêm rót trà:
Bây giờ thì tốt rồi. Một người nói với một người. Chúng ta có thể bàn.

Hai người nói chuyện hơn một canh giờ. Hóa ra trong lời phê bình ấy có một phần hợp lý và Văn Khiêm thực sự sửa cách giảng.

Ông bảo học trò:
Làm rõ lời nói không phải để thắng người. Có khi bóc lớp phóng đại ra, bên trong lại tìm được một lời góp ý đáng quý.

KỆ
Lời mờ dễ khiến dạ hoang mang,
Hỏi rõ nguồn căn hết nhập nhằng.
Chân thật chẳng hề e vấn đáp,
Mây tan mới thấy nguyệt thanh quang.

Thái Huyền
🙏🏻🌺🙏🏻🌺🙏🏻

Khi sử dụng hoặc trích dẫn, vui lòng ghi rõ nguồn và tên tác giả.
🌺🌸🌺🌸🌺
🙏🏻 Bản quyền câu chuyện thuộc về Thái Huyền. Khi sử dụng hoặc trích dẫn, vui lòng ghi rõ nguồn và tên tác giả.
🌺 Xin Bạn Đọc Lưu Ý :
Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính văn chương, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, Truyền Thông hay tin tức báo chí.
Xin Kính Tri Ân Quý Vị

( Một số hình ảnh sưu tầm trên mạng )
🙏🏻🌺🙏🏻🌺🙏🏻

( Tặng Quý Bạn đọc giải tríMỗi ngày sẽ đăng 2 truyện  )MƯỜIHAI CHUYỆNTRÍMười hai kế hóa giải thị phiNgười khôn không phả...
10/09/2026

( Tặng Quý Bạn đọc giải trí
Mỗi ngày sẽ đăng 2 truyện )

MƯỜIHAI CHUYỆNTRÍ

Mười hai kế hóa giải thị phi
Người khôn không phải người có nhiều mưu để hại kẻ khác. Người khôn là người nhìn thấy cái bẫy mà không cần bước vào, thấy ngọn lửa mà không cần lấy lửa đáp lửa.

CHUYỆN THỨ NHẤT
CHÉN TRÀ KHÔNG ĐỔ

( Tĩnh Thủy Chế Động )

Ở trấn Thanh Hà có hai thương nhân cùng bán tơ: Lục An và Mã Quý.

Mã Quý thấy cửa hiệu Lục An đông khách, sinh lòng khó chịu. Một hôm giữa chợ, hắn cố tình nói lớn:
Tơ nhà Lục An nhìn đẹp thế thôi, gặp nước chắc co lại bằng… khăn lau bàn!

Mọi người cười ồ.
Lục An đang uống trà.
Ông vẫn uống.
Mã Quý thấy chưa đủ, lại nói :
Hay ông không dám trả lời ?

Lục An đặt chén xuống:
Ông muốn tôi trả lời thật sao ?
-Tất nhiên!
-Được. Ngày mai xin mang một cuộn tơ của ông. Tôi mang một cuộn của tôi. Trước mặt mọi người, cùng ngâm nước, phơi khô rồi đo.
Mã Quý tái mặt.
Thì ra hắn biết tơ của mình còn co nhiều hơn.

Hắn chữa:
Ta… chỉ đùa thôi mà!

Lục An nâng chén:
May quá. Tôi cũng đang định mời ông uống trà. Nếu ông nói thêm chút nữa, trà nguội mất.

Cả chợ bật cười.

Tối ấy con trai hỏi:
Cha không giận sao?

Lục An đáp:
Có.

-Sao cha không mắng?

-Vì lúc giận, miệng thường chạy nhanh hơn trí. Ta không muốn giao dây cương của mình cho người khác cầm.

KỆ
Tâm như thủy tĩnh chiếu trăng ngàn,
Gió nổi bên ngoài chẳng vội than.
Người muốn khơi sân ta giữ định,
Một phen nước lặng lửa tự tàn.

CHUYỆN THỨ HAI

MỘT TỜ GIẤY THẮNG TRĂM CÁI MIỆNG
( Minh Kính Chiếu Tà )

Thư lại Trần Phúc phụ trách kho lương trong huyện.

Một ngày, có người tố ông làm thất thoát ba mươi bao gạo.

Tin lan rất nhanh.

Người nói ba mươi.

Người nói năm mươi.

Đến quán rượu đầu làng thì đã thành… một trăm hai mươi bao.

Trần Phúc nghe xong bảo:
Nếu để thêm ba ngày, chắc ta ăn hết cả kho lương triều đình.

Ông không thanh minh.

Ngày đối chất, viên chủ sự hỏi:
Ngươi nói sao?

Trần Phúc chỉ đặt lên bàn ba thứ: sổ nhập kho, biên bản xuất kho và giấy xác nhận của đoàn cứu tế.

Ba mươi bao gạo “mất” chính là số gạo đã được cấp khẩn cho ba làng bị lũ.

Người tố cáo cứng họng.

Trần Phúc không mắng, chỉ nói:
Lần sau muốn buộc tội tôi, xin xem sổ trước. Đỡ mất công cả hai bên.

Quan huyện bật cười:
Và đỡ cho dân làng phải nghe số gạo tăng lên mỗi bữa rượu!

KỆ
Thị phi trăm miệng nổi như phong,
Chứng cứ một trang sáng giữa lòng.
Chẳng lấy lời nhiều tranh tiếng dữ,
Gương trong vừa chiếu bóng thành không.

Thái Huyền

🙏🏻 Bản quyền câu chuyện thuộc về Thái Huyền. Khi sử dụng hoặc trích dẫn, vui lòng ghi rõ nguồn và tên tác giả.
🌺 Xin Bạn Đọc Lưu Ý :
Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính văn chương, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, Truyền Thông hay tin tức báo chí.
🙏🏻Xin Kính Tri Ân Quý Vị

( Một số hình ảnh sưu tầm trên mạng )
🙏🏻🌺🙏🏻🌺🙏🏻

TRĂNGLẠNH GIỮANHÂNGIANNam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.Nguyện người còn biết sống bằng hiếu hạnh; người mất được gửi...
27/08/2026

TRĂNGLẠNH GIỮANHÂNGIAN

Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.
Nguyện người còn biết sống bằng hiếu hạnh; người mất được gửi lòng tưởng niệm; những phận đời cô độc, vô danh đều được đối đãi bằng phẩm giá và tình thương. Bởi đàn tràng có thể mãn, hương đăng có thể tàn, nhưng một niệm Đại Bi chân thật còn ở lại trong lòng người thì ánh sáng tháng Bảy vẫn chưa bao giờ tắt.

Thi Kệ :
Tháng Bảy mây thu sầu chất ngất
Chuông vọng sầu bi
kẻ lang thang
Khói hương phảng phất
miền u tịch
Hoàng hôn ảo ảnh phủ nhân gian

Vu Lan tâm thành
hoa hiếu hạnh
Ơn mẹ nghĩa cha tựa biển trời.
Một niệm tri ân thành pháp nguyện,
Cho lòng hiếu đạo
sáng muôn nơi.

Ngoài hiên cơm trắng với hương trầm,
Một bát cháo thanh gửi thiện tâm.
Chẳng hỏi cô hồn tên tuổi cũ,
Chỉ thương lưu lạc chốn xa xăm.

Kẻ mất mồ hoang vẫn được mời,
Người không thân thuộc vẫn chung lời.
Từ tâm đâu hỏi sang cùng khó,
Bi nguyện dung hòa khắp cõi nơi

Trí soi duyên khởi thấy vô thường,
Bi mở bàn tay trải tình thương.
Có Trí, lòng Từ không hệ lụy,
Có Bi, tuệ giác mới thơm hương.

Biết cảnh phù sinh chẳng đấu tranh,
Mà nghe nhân thế khổ chưa lành.
Thấy đời như mộng, lòng không lạnh,
Vẫn nguyện đưa người khỏi tử sanh.

Vương giả rồi thành lớp cỏ sương,
Anh hùng cũng khuất cuối vô thường.
Mỹ nhân, tài tử rồi xa bóng,
Danh lợi còn đâu giữa tịch dương.

Nguyễn Du từng khóc kiếp nhân sinh,
Thương những hồn oan cõi u linh
Thi ca gặp cửa Từ Bi ấy,
Cho kẻ vô danh chút nghĩa tình.

Một tiếng chuông khuya tỉnh mộng đời,
Trăng thu soi tỏ áng mây trôi.
Sắc Không chẳng phải là xa thế,
Thấu lẽ vô thường lại quý thôi !

Muối gạo ít nhiều cũng kết duyên,
Cho mà chẳng đợi đáp ơn đền.
Vô cầu bố thí lòng thanh tịnh,
Một hạt Từ tâm nở đóa thiền.

Con trẻ nhìn cha rải gạo sân,
Mai sau có thể lãng quên dần.
Nhưng lòng còn nhớ người cơ nhỡ,
Ấy hạt Bi tâm đã bén mầm.

Hương tàn, đàn mãn, nguyệt về Tây,
Hoa quả rồi phai, lá rụng đầy.
Pháp hội tuy tan, lòng chớ tắt,
Một đèn tâm thiện sáng đêm dày.

Hôm nay ta thắp nén hương người,
Mai biết ai còn nhớ đến ta.
Hiểu vậy kiêu căng liền lắng xuống,
Oán hờn theo gió cũng bay xa.

Người sống, người khuất chẳng xa xôi,
Cùng giữa duyên sinh một biển đời.
Xin lấy Từ quang làm bến giác,
Đưa thuyền Bi nguyện đến muôn nơi.

Trăng lạnh nhưng lòng chẳng lạnh đâu,
Một niệm thương nhau ấm nhiệm mầu.
Giữa đời hữu hạn xin tự hỏi:
Ta kịp thương người đến tận sâu?

Lời nguyện
cuối mùa Vu Lan

Nguyện ánh Từ quang soi u hiển,
Nguyện dòng Bi nguyện rưới nhân gian.
Kẻ còn biết quý từng duyên gặp,
Người khuất nương nhờ một niệm an.

Không mộ, không nhà đều được nhớ,
Không thân, không thuộc vẫn tương quan.
Một vầng nguyệt bạch soi sinh tử,
Muôn loại cùng về cõi lạc bang …

Thái Huyền
Mùa Vu Lan PL 2570

BÁTCHÁO MÙAHIẾUHẠNH (🌺 Mùa Thu Vu Lan về Xin viết dâng lên Mẹ Cha đã Quá Vãng gọi chút Báo Đáp Ân Tình trong muôn một ) ...
15/08/2026

BÁTCHÁO
MÙAHIẾUHẠNH
(🌺 Mùa Thu Vu Lan về
Xin viết dâng lên Mẹ Cha đã Quá Vãng gọi chút Báo Đáp Ân Tình trong muôn một )

🌸Thuở ấy, dưới chân núi Vân Môn có một thôn nhỏ tên Thanh Khê. Sau làng là núi xanh quanh năm mây phủ, trước làng có con suối trong len qua những phiến đá rêu phong. Mỗi buổi chiều, khi tiếng chuông từ ngôi cổ tự trên sườn núi vọng xuống, khói bếp lại lững lờ bay trên những mái nhà tranh.

Cuối thôn có một căn nhà nhỏ của vợ chồng Trần Viễn và Nguyệt Tâm.

Trần Viễn làm nghề đan sọt. Nguyệt Tâm dệt vải thuê. Hai người không có ruộng tốt, chẳng có bạc vàng, chỉ có một người con trai tên Tử An.

Tử An từ nhỏ sáng dạ. Nhà nghèo không đủ tiền mua dầu thắp đèn, có những đêm cậu đem sách ra ngồi cạnh bếp, nhờ ánh lửa mà đọc.

Nguyệt Tâm thấy vậy thương con, thường giả vờ ngồi vá áo bên cạnh.

Tử An bảo:
Mẹ ngủ đi. Con lớn rồi, không cần mẹ thức cùng.

Bà vẫn cúi đầu xỏ kim:
Ai bảo mẹ thức cùng con? Mẹ đang canh cây kim.

Kim có chân đâu mà chạy?

Có chứ! Mẹ ngủ quên, nó chạy xuống đất. Cha con giẫm phải, sáng mai ông ấy khỏi đi bán sọt. Lúc đó lấy gì mua giấy cho con?

Tử An phì cười.

Ở góc nhà, Trần Viễn đang chẻ nan tre, nghe vậy liền nói:
Bà cứ đổ cho cây kim. Rõ ràng thương con mà còn sĩ diện.

Nguyệt Tâm nguýt chồng:
Ông không sĩ diện chắc? Hôm qua ai nhường bánh mè cho nó rồi bảo răng mình đau?

Trần Viễn ho một tiếng:
Răng ta… hôm qua đau thật.

-Hôm nay hết chưa?

-Hết rồi.

-Thế còn nửa cái bánh trong bếp.

Ông lập tức đáp:
Tự nhiên lại đau.

Cả nhà bật cười.

Những năm tháng nghèo khó ấy, căn nhà chẳng có vật gì quý, nhưng tiếng cười thì chưa bao giờ thiếu.

Tử An càng lớn càng học giỏi.

Năm mười bảy tuổi, chàng đứng đầu kỳ khảo thí trong huyện. Người làng kéo đến chúc mừng. Có người bảo Trần Viễn:
Sau này con ông làm quan lớn, ông bà tha hồ hưởng phúc.

Trần Viễn đang đan dở chiếc sọt, nghe vậy chỉ cười:
Nó làm quan hay làm dân không quan trọng. Ta chỉ mong nó làm người tử tế.

Rồi ông nhìn con:
Con nhớ nhé! Mũ quan đội cao đến đâu cũng đừng để nó che mất con đường về nhà.

Tử An khi ấy còn trẻ, nghe cha nói chỉ cười.

Chàng đâu biết có những lời cha mẹ nói lúc ta còn trẻ, phải đi gần hết đời người mới hiểu.

Năm hai mươi ba tuổi, Tử An lên kinh ứng thí.

Đêm trước ngày con đi, Nguyệt Tâm thức đến gần sáng để khâu nốt chiếc áo bông màu tro.

Bà đưa áo cho con:
Kinh thành lạnh hơn quê. Đừng thấy người ta mặc gấm vóc rồi chê áo mẹ thô.

Tử An khoác thử, cười:
Áo mẹ may nặng thế này, con mặc vào chắc gió bấc cũng không thổi nổi.

Nguyệt Tâm vuốt lại cổ áo:
Áo không nặng. Lòng mẹ nặng.

Trần Viễn đứng bên cạnh không nói gì.

Đến lúc con sắp lên đường, ông mới lấy từ trong ngực áo ra một túi vải nhỏ.

Trong đó chỉ có vài đồng bạc vụn.

Cha chỉ có chừng này.

Tử An biết đó gần như toàn bộ tiền cha mẹ dành dụm.

Chàng định trả lại, nhưng Trần Viễn nắm tay con:
Cầm đi. Đường xa cần dùng.

Rồi ông nói:
Cha không dặn con phải đỗ trạng nguyên. Chỉ dặn ba điều: gặp người già thì kính, gặp người khó thì thương, gặp việc có lợi cho mình mà hại người thì đừng làm.

Tử An quỳ xuống:
Con xin ghi nhớ.

Sáng ấy, chàng đi qua chiếc cầu gỗ đầu làng.

Nguyệt Tâm đứng nhìn mãi.

Trần Viễn đã quay vào sân.

Bà trách:
Con đi mà ông chẳng nhìn thêm một chút?

Ông vẫn cúi xuống bó lại đống nan tre:
Nhìn nữa… mắt cay.
Gió hôm nay có mạnh đâu?

Trần Viễn im lặng.

Một giọt nước rơi xuống thanh tre trong tay ông.

Mùa xuân năm ấy, Tử An đỗ tiến sĩ.

Ba năm sau, chàng được bổ làm quan ở kinh thành.

Ngày tin vui truyền về Thanh Khê, Nguyệt Tâm vừa cười vừa khóc. Trần Viễn vẫn ngồi trước hiên đan chiếc sọt đang làm dở.

Người hàng xóm hỏi:
Con làm quan rồi, ông còn đan sọt làm gì?

Ông đáp:
Nó làm quan là phận sự của nó. Ta còn đôi tay thì làm việc của ta. Chẳng lẽ con làm quan, cái sọt cũng tự đan được?

Mọi người cười ồ.

Những năm đầu, tháng nào Tử An cũng gửi thư về.

Chàng hỏi cha còn đau lưng không, mẹ còn ho khi trời lạnh không. Có lần còn gửi thuốc bổ và mấy tấm lụa tốt.

Nguyệt Tâm cất lụa vào rương.

Trần Viễn hỏi:
Sao không may áo?

-Để dành.

-Để dành làm gì?

-Khi con về thì mặc.

Nhưng hết mùa xuân đến mùa đông, chiếc áo vẫn chưa được may.

Bởi Tử An chưa về.

Công việc ở kinh thành ngày một nhiều.

Thư mỗi tháng thành ba tháng một lần.

Ba tháng thành nửa năm.

Rồi những lá thư dài dần biến thành mấy dòng ngắn ngủi:
“Con bình an. Công vụ bận rộn. Cha mẹ giữ gìn sức khỏe.”

Tử An không phải người con vô tình.
Chàng vẫn thương cha mẹ.
Chỉ có điều giữa kinh thành náo nhiệt, việc gì cũng có vẻ cấp bách.
Sáng công văn.
Trưa tiếp khách.
Chiều nghị sự.
Tối yến tiệc.
Người này cần gặp, người kia cần nhờ.

Còn cha mẹ ở quê, chàng luôn nghĩ:
“Tháng sau ta sẽ về.”

Nhưng tháng sau lại có việc khác.

Con người thường lạ như thế.

Ta dành thời gian cho những việc tưởng không thể chậm một ngày, nhưng lại trì hoãn người thương ta nhất, bởi trong thâm tâm cứ tưởng họ sẽ mãi ngồi đó đợi mình.

Một tối cuối thu, Tử An đang dự tiệc ở phủ một vị đại thần thì gia nhân mang đến lá thư từ quê.

Nhìn nét chữ ngoài phong bì, chàng nhận ra ngay chữ mẹ.

Một người bên cạnh nâng chén:
Tử đại nhân, đến lượt ngài!

Tử An đặt thư vào ngực áo.

“Về nhà đọc cũng chưa muộn.”

Đêm ấy chàng uống nhiều.

Sáng hôm sau lại có án lớn.

Rồi sứ đoàn phương Bắc tới kinh.

Lá thư bị quên trong chiếc áo suốt gần hai tháng.

Cho đến một ngày, người hầu mang áo ra phơi, phong thư rơi xuống.

Tử An mở ra.

Nét chữ mẹ run run:
“An nhi,

Cha con mấy tháng nay ho nhiều. Thầy thuốc bảo tuổi cao khí suy. Ông ấy cứ nói bệnh nhẹ.

Mẹ biết con bận việc nước, không muốn con phân tâm.

Chỉ có điều gần đây chiều nào cha con cũng ngồi trước cổng.

Mẹ hỏi đợi ai, ông ấy bảo đợi người bán dầu.

Nhưng làng mình lâu lắm rồi chẳng có người bán dầu nào đi ngang.

Nếu con rảnh, về vài hôm.

Không rảnh cũng không sao.

Cha mẹ vẫn bình an.”

Tử An đọc đến bốn chữ “vẫn bình an”, bàn tay bỗng run lên.

Chàng hiểu mẹ.

Nếu thật sự bình an, bà đã chẳng viết lá thư này.

Ngay trong ngày, Tử An xin nghỉ, thay thường phục, cưỡi ngựa về quê.

Trời cuối thu đổ mưa như trút.

Đến Thanh Khê thì nước lũ dâng cao, cầu gỗ đã bị cuốn mất một đoạn.

Người chèo đò lắc đầu:
Không qua được đâu. Nước dữ lắm.

Tử An tháo miếng ngọc bên thắt lưng:
Đưa ta qua. Miếng ngọc này đủ cho ông sống mấy năm.

Người chèo đò nhìn miếng ngọc rồi nhìn dòng nước:
Khách quan, mạng người không mua bằng ngọc được.

Tử An đứng sững.

Mạng người không mua được.

Vậy những năm tháng của cha mẹ thì sao?

Có mua lại được không?

Những buổi chiều cha ngồi trước cổng, có mua lại được không?

Những đêm mẹ chong đèn chờ thư, có mua lại được không?

Tử An quay ngựa, men theo thượng nguồn, đi vòng hơn hai mươi dặm.

Đến đầu làng thì trời vừa sáng.

Cánh cổng tre vẫn xiêu vẹo như ngày nào.

Cây hồng trước sân đã rụng gần hết lá.

Nguyệt Tâm đang ngồi nhóm bếp.

-Mẹ!

Bà quay lại.

Que củi rơi khỏi tay.

Tử An bỗng thấy mẹ già đến mức mình gần như không nhận ra.

Mái tóc ngày xưa mới lấm tấm bạc, giờ đã trắng quá nửa.

Bà nhìn con thật lâu rồi chỉ nói:
Con về đấy à?

Không trách.

Không hỏi.

Không oán.

Chính sự không trách ấy khiến Tử An đau hơn mọi lời trách móc.

Chàng quỳ xuống ôm lấy đôi chân mẹ.

-Mẹ… con bất hiếu.

Nguyệt Tâm xoa đầu con như ngày chàng còn bé:

-Về rồi thì vào với cha đi.
-Cha đâu?

Bà nhìn về gian trong.

Tử An lao vào.

Trần Viễn nằm trên chiếc giường tre cũ. Người ông gầy đi rất nhiều, hơi thở mỏng như sợi khói.

Tử An quỳ xuống nắm lấy bàn tay cha.

-Cha! Con về rồi!

Không có tiếng đáp.

-Cha! Tử An đây!

Đôi mi Trần Viễn khẽ động.

Một lúc lâu, ông mở mắt.

Nhìn con hồi lâu, khóe miệng bỗng nhếch lên:
À… người bán dầu cuối cùng cũng tới.

Tử An vừa khóc vừa bật cười.

Nguyệt Tâm đứng sau lưng lau nước mắt:
Tôi đã bảo ông, làng này làm gì còn người bán dầu.

Trần Viễn thều thào:
Ta biết… Nói đợi con nghe mất mặt lắm.

Ba người cười giữa nước mắt.

Hôm ấy, Tử An tự tay nấu cháo cho cha.

Chàng từng đọc hàng vạn quyển sách, từng viết những bản tấu được triều đình khen ngợi, vậy mà đứng trước nồi cháo lại chẳng biết một nắm gạo cần bao nhiêu nước.

Nguyệt Tâm ngồi bên chỉ:
Thêm nước.

Chàng thêm.

-Nhiều quá!

Chàng múc bớt.

-Lửa nhỏ thôi!

Tử An cúi xuống thổi.

Tro bay đầy mặt.

Từ trong giường, Trần Viễn yếu ớt gọi:
Quan tiến sĩ mà nấu cháo thế này… dân thiên hạ nguy rồi.

Nguyệt Tâm bật cười.

Tử An cũng cười, nhưng nước mắt chảy xuống gò má.

Cuối cùng cháo chín.

Một nửa đặc.

Một nửa khê.

Tử An đỡ cha dậy, thổi từng thìa.

Trần Viễn ăn được ba thìa rồi dừng.

Tử An hỏi:
Dở lắm sao cha?

-Dở.

Chàng cúi đầu.

Cha nhìn con, mỉm cười:
Nhưng ngon hơn mọi thứ cha từng ăn.

Đêm ấy, trăng thu sáng trên Thanh Khê.

Tử An ngồi bên giường cha.

Trần Viễn hỏi:
Con làm quan mấy năm rồi?

-Bảy năm.

-Bảy năm dài không?

Tử An không trả lời.

Cha nhìn ra cửa sổ:
Khi trẻ, ai cũng tưởng đời còn dài.

Ông im lặng hồi lâu rồi hỏi:
Con còn nhớ hồi tám tuổi bị bệnh, cha cõng con lên huyện tìm thầy thuốc không?

-Con nhớ.

-Hôm ấy tuyết dày. Con nằm trên lưng cha cứ hỏi: “Sắp tới chưa?” Cha luôn nói: “Sắp rồi.”

Ông cười khẽ:
Thật ra lúc ấy mới đi được một phần ba đường.

Tử An cúi đầu.

-Cha nói dối vì sợ con tuyệt vọng. Nhưng đời người lại ngược lại. Khi còn trẻ, ta cứ tự bảo mình: “Còn lâu lắm.” Đến lúc quay đầu mới biết… chẳng còn bao xa.

Tử An nắm chặt tay cha:
Con sai rồi.

Trần Viễn lắc đầu.

-Biết quay về thì chưa muộn hết.

-Con sẽ xin từ quan để phụng dưỡng cha mẹ.

-Không được.

Tử An sửng sốt.

Trần Viễn cười:

-Nếu ai có cha mẹ già cũng bỏ hết bổn phận, thiên hạ này ai lo?

Ông thở chậm rồi nói:
Hiếu không phải lúc nào cũng là ở cạnh cha mẹ. Con có bổn phận của con. Nhưng đừng dùng hai chữ “bận rộn” để che giấu sự lãng quên.

Tử An hỏi:
Vậy thế nào mới là hiếu?

Trần Viễn nhìn con:
Khi cha mẹ còn gọi được tên con, con còn chịu nghe. Khi cha mẹ còn ăn được một bát cháo, con còn có dịp nấu. Khi còn có thể nói một câu thương, đừng để đến trước bàn thờ mới nói.

Tử An cúi đầu, nước mắt rơi xuống tay cha.

Tử An ở lại quê hơn một tháng.

Sáng sắc thuốc.
Trưa nấu cơm.
Chiều dìu cha ra ngồi dưới cây hồng.

Có lần chàng dìu cha quá chặt.

Trần Viễn càu nhàu:
Buông ra chút. Cha chưa chết.

-Con sợ cha ngã.

-Hồi nhỏ con ngã suốt, cha có trói con vào lưng đâu.

Nguyệt Tâm đứng phía sau cười:
Hai cha con già rồi mà vẫn cãi nhau.

Nhưng bệnh Trần Viễn ngày một nặng.

Một sáng, ông gọi Tử An đến.

-Sau này nếu con có con, đừng bắt nó trả ơn con.

Tử An ngạc nhiên:
Vì sao?

-Cha mẹ thương con mà đem tình thương ra đòi trả thì tình thương biến thành món nợ.

Ông nhìn con thật lâu:
Con hiếu với cha mẹ không phải vì mắc nợ. Mà vì biết ơn.

Rồi ông chậm rãi nói:
Nếu sau này con biết thương người già như thương cha, biết thương người yếu như mẹ từng thương con, ấy mới là báo hiếu lớn.

Chiều hôm ấy, Trần Viễn ra đi.

Rất nhẹ.

Nguyệt Tâm ngồi bên giường, một tay lần chuỗi hạt, một tay đặt lên bàn tay chồng.

Tử An quỳ dưới chân cha rất lâu.

Ngoài sân, một chiếc lá hồng lìa cành.

Chàng nhìn chiếc lá rơi và bỗng hiểu:

Vô thường không phải chuyện sẽ xảy đến một ngày nào đó.

Vô thường chính là chiếc lá vừa rời cành trong khi ta còn tưởng mùa thu hãy còn dài.

Ba năm sau, Nguyệt Tâm cũng già yếu.

Tử An vẫn làm quan nhưng đều đặn trở về thăm mẹ.

Có người hỏi:
Đường xa như thế, đại nhân đi lại không mệt sao?

Chàng đáp:

-Mệt thì nghỉ được. Muộn thì không cách gì quay lại cho kịp.

Một đêm trăng sáng, Nguyệt Tâm gọi con đến.

-Con còn giữ chiếc áo bông mẹ may năm con lên kinh không?

-Con vẫn giữ.

-Cũ rồi, bỏ đi.

Tử An cười trong nước mắt:

-Ngày trước mẹ bảo con đừng chê áo mẹ thô.

Bà mỉm cười:
Khi ấy mẹ sợ con quên mẹ. Bây giờ biết con không quên rồi… giữ cái áo làm gì cho chật rương.

Đó là câu nói cuối cùng của bà.

Nhiều năm sau, Tử An tóc đã bạc.

Ông trở về Thanh Khê.

Căn nhà cũ không còn nữa. Cây hồng trước sân cũng chỉ còn một gốc mục.

Tử An ngồi bên bờ suối, lấy từ hành lý ra chiếc áo bông màu tro.

Áo đã sờn.

Chỉ có đường kim của mẹ vẫn còn.

Từ ngôi cổ tự trên núi, tiếng chuông chiều chậm rãi vọng xuống.

Ông chợt nhớ cha ngồi đan sọt.
Nhớ mẹ vá áo bên bếp.
Nhớ bát cháo khê năm ấy.
Và nhớ câu cha từng nói:
“Nếu thương được người đời như cha mẹ từng thương con, ấy mới là báo hiếu lớn.”

Bấy giờ Tử An mới hiểu:
Cha mẹ sinh ra một đời con.

Nhưng tình thương của cha mẹ không nên dừng lại ở người con ấy.

Nếu người con biết đem tình thương mình từng nhận mà đối đãi tử tế với cuộc đời, thì cha mẹ tuy đã khuất, lòng từ của họ vẫn tiếp tục sống giữa nhân gian.

Tử An đặt chiếc áo lên đầu gối.
Chắp hai tay.
Lặng yên.

Dòng Thanh Khê vẫn chảy.
Mây Vân Môn vẫn bay.

Người cũ không còn, nhưng tình thương chưa từng mất.

Bởi có những người rời khỏi đời ta, mà suốt phần đời còn lại, ta vẫn đang sống bằng những gì họ đã trao.

THÔNG ĐIỆP

Đạo hiếu của Đông phương không chỉ nằm ở mâm cao cỗ đầy, tiền bạc hay nghi lễ. Hiếu bắt đầu từ lòng biết ơn và sự hiện diện.

Khi cha mẹ còn sống, hãy dành thời gian để hỏi han, chăm sóc, lắng nghe và làm cho cha mẹ được an lòng.

Theo tinh thần Phật giáo, báo hiếu không chỉ là phụng dưỡng thân cha mẹ, mà còn là sống đời thiện lành, giữ tâm chân thật, tránh điều bất thiện, tạo phước và hồi hướng công đức đến cha mẹ hiện tiền cũng như cha mẹ đã quá vãng.

Nhưng chữ hiếu còn có một tầng sâu hơn:

Đừng để tình thương cha mẹ trao cho ta kết thúc ở chính ta.

Cha từng che chở ta — ta học cách che chở người yếu thế.

Mẹ từng tha thứ cho ta - ta học cách bao dung.

Cha từng nhường phần ngon - ta biết sẻ chia.

Mẹ từng thức trắng khi ta bệnh - ta biết ngồi xuống bên một người đang khổ đau.

Khi ấy, tình cha nghĩa mẹ đã hóa thành lòng từ.

Và lòng hiếu từ một mái nhà nhỏ có thể mở rộng thành tình thương đối với cuộc đời.

Đừng đợi thành đạt mới báo hiếu.

Đừng đợi rảnh mới trở về.

Đừng đợi cha mẹ già yếu mới nói lời yêu thương.

Bởi có những món nợ có thể trả bằng tiền.

Có những lỗi lầm có thể sửa bằng thời gian.

Nhưng một buổi chiều cha mẹ đã ngồi đợi trước hiên thì không có vàng bạc nào mua lại được.

Khi cha còn, xin quý tiếng cha gọi.
Khi mẹ còn, xin quý bóng mẹ chờ.

Và khi cha mẹ đã khuất, hãy sống sao để mỗi việc thiện mình làm đều có một phần ánh sáng của người xưa ở trong đó.
Ấy chính là một cách đẹp đẽ để viết tiếp chữ:
HIẾU.

KHÚC HIẾU TÂM

Ơn cha như bóng non ngàn,
Che con mưa nắng chẳng than nhọc nhằn.
Nghĩa mẹ tựa ánh trăng rằm,
Đêm khuya còn thức âm thầm vì con.

Mai sau đá núi có mòn,
Sông kia có cạn, nghĩa còn trong tâm.
Đừng chờ phú quý mới thăm,
Đừng chờ tóc mẹ trắng ngần mới thương.

Cha còn, xin giữ yêu thương,
Mẹ còn, xin quý đoạn đường có nhau.
Một mai bóng khuất sân sau,
Mâm cao cỗ quý còn đâu người chờ.

Hiếu đâu chỉ trước bàn thờ,
Mà trong hơi thở từng giờ thiện tâm.
Sống sao chẳng thẹn âm thầm,
Đem tình cha mẹ gieo mầm từ bi.

Người đi, bóng khuất còn gì,
Mà ân ở lại cùng đi với mình.
Chuông chùa ngân giữa bình minh,
Hiếu là sống trọn nghĩa tình mẹ cha.

Thái Huyền
Mùa Hiếu Hạnh
Năm Bính Ngọ

🙏🏻 Bản quyền câu chuyện thuộc về Thái Huyền. Khi sử dụng hoặc trích dẫn, vui lòng ghi rõ nguồn và tên tác giả.
🌺 Xin Bạn Đọc Lưu Ý :
Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính văn chương, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, Truyền Thông hay tin tức báo chí.
Xin Kính Tri Ân Quý Vị

( Một số hình ảnh sưu tầm trên mạng )

🙏🏻🌺🙏🏻🌺🙏🏻

CHIẾCCHÉNMẺ   ẤMTRÀMÂY Người xưa kể rằng, dưới chân núi Vân Mộng có một trấn nhỏ tên là Thanh Khê. Trấn không lớn, chỉ v...
04/08/2026

CHIẾCCHÉNMẺ
ẤMTRÀMÂY

Người xưa kể rằng, dưới chân núi Vân Mộng có một trấn nhỏ tên là Thanh Khê. Trấn không lớn, chỉ vài con đường lát đá, một cây cầu gỗ cong cong bắc qua dòng suối và ngôi chùa cổ nằm lưng chừng núi.

Ở Thanh Khê có một người buôn tơ lụa tên là Lục Thành.

Lục Thành ngoài bốn mươi tuổi, nhà cao ba dãy, kho lụa đầy sáu gian, người làm ra vào suốt ngày. Trong trấn, ai nhắc đến ông cũng phải hạ giọng đôi chút, có người kính nể, có người thèm muốn, cũng có người vừa cười vừa nói sau lưng:
“Nhà họ Lục chắc phải ăn cơm bằng bát vàng.”

Thật ra Lục Thành vẫn ăn cơm bằng bát sứ. Có điều, mỗi bữa ông chỉ ăn được vài miếng.
Ông sợ người làm ăn cắp, sợ đối tác lật lọng, sợ kho hàng cháy, sợ giá tơ tụt xuống, lại sợ kẻ khác giàu hơn mình. Đêm nào nghe chó sủa, ông cũng bật dậy cầm đèn đi một vòng quanh nhà.
Có hôm con mèo nhảy qua mái ngói làm vỡ một chiếc chậu, ông hốt hoảng gọi cả mười gia nhân dậy, tưởng cướp đã trèo tường.
Tìm mãi chỉ thấy con mèo ngồi bên góc sân liếm chân.

Người quản gia bật cười, nhưng vừa thấy sắc mặt ông chủ liền ho khan:
“Con mèo này… quả thật rất đáng nghi.”

Lục Thành không cười nổi.

Trong trấn còn có Tạ Uyên, một viên quan coi việc thuế khóa. Tạ Uyên chưa đến năm mươi, áo gấm đai ngọc, mỗi lần đi qua chợ đều có người cúi chào. Ông nói một lời, nhiều kẻ phải nghe. Ông nhíu mày một cái, thuộc hạ đã lo sửa lại sổ sách.

Lục Thành thường nhìn kiệu của Tạ Uyên mà thở dài:
“Có tiền mà không có quyền, vẫn phải cúi đầu trước người ta. Giá như ta được như Tạ đại nhân thì đời này còn mong gì nữa.”

Còn Tạ Uyên mỗi lần đi ngang cửa hàng lụa của Lục Thành, nhìn những rương bạc chuyển vào kho, lại nghĩ:
“Làm quan lắm khi chỉ mang tiếng. Người giàu như Lục Thành mới thật tự do, muốn ăn thì ăn, muốn ngủ thì ngủ, chẳng cần nhìn sắc mặt ai.”

Hai người đều nghĩ cuộc đời của người kia sung sướng hơn mình.

Chỉ có một người không nghĩ vậy.

Đó là Thiền sư Không Chiếu ở chùa Tịch Vân.
Không Chiếu tuổi đã ngoài sáu mươi, dáng gầy, áo vá vài chỗ. Ngài thường xuống trấn đổi rau, khi thì tự gánh củi, lúc lại ngồi uống trà với người bán bánh. Có kẻ hỏi việc lớn, ngài nói một câu. Có người hỏi việc nhỏ, ngài cũng nói một câu. Đôi khi hỏi mãi, ngài lại cười mà không đáp.

Người trong trấn bảo thiền sư cao thâm.

Riêng bà bán đậu phụ lại nói:
“Cao thâm gì đâu. Hôm trước ngài còn thiếu tôi hai đồng.”

Một ngày cuối thu, Lục Thành mang một hộp trà quý lên chùa.
Ông đặt hộp trà trước mặt Không Chiếu, rồi than rằng mình có nhiều tiền nhưng không được an lòng. Ông kể chuyện người làm gian dối, bạn buôn tráo hàng, họ hàng vay bạc không trả, con trai lớn chỉ thích cưỡi ngựa đi chơi.
Nói đến đây, ông tức giận vỗ bàn:
“Bạch thiền sư, người đời đều bảo có tiền là có phúc. Vì sao tôi càng có nhiều lại càng khổ.”

Không Chiếu mở hộp trà, ngửi một lát rồi nói:
“Trà tốt.”

Lục Thành chờ nghe đạo lý, nhưng thiền sư chỉ nói có hai chữ ấy. Ông sốt ruột:
“Ngài không nghe tôi nói sao.”

“Có nghe.”

“Vậy vì sao ngài không chỉ cho tôi cách hết khổ.”

Không Chiếu thong thả đặt một chiếc chén trước mặt ông. Chiếc chén ấy nhỏ, men xanh, nhưng miệng bị khuyết một góc.

Thiền sư rót trà.
Nước vừa chạm đến chỗ khuyết liền chảy xuống bàn.

Lục Thành vội kêu:

“Chén vỡ rồi, sao còn dùng được.”

Không Chiếu lấy tay xoay chiếc chén, để phần khuyết hướng lên trên. Lần này trà không chảy nữa.
Ngài nói:
“Chén không cần lành hết mới giữ được trà. Người không cần có đủ mọi thứ mới sống được một đời.”

Lục Thành im lặng.

Nhưng rồi ông vẫn chưa phục:
“Nếu có thể đổi lấy chiếc chén lành, cớ gì phải dùng chén khuyết.”

Thiền sư cười:
“Vì ông chỉ thấy chỗ khuyết, nên quên rằng nó vẫn còn phần lành.”

Lục Thành nghe vậy, trong lòng hơi động. Song… chỉ hơi động thôi. Người đã quen tính sổ lời lỗ, đâu dễ vì một chiếc chén mà buông được cả kho bạc.

Ba ngày sau, Tạ Uyên cũng lên chùa.

Ông vừa nhận được mật thư từ kinh thành. Một viên quan đồng liêu bị kết tội tham ô, trước khi bị bắt đã khai ra nhiều cái tên, trong đó có tên Tạ Uyên. Chuyện thật giả còn chưa rõ, nhưng từ sáng đến chiều, ông ăn không ngon, tay lạnh như nước suối mùa đông.

Tạ Uyên gặp Không Chiếu liền hỏi:
“Bạch thiền sư, quyền thế có phải là phúc không.”

Thiền sư đang quét lá, nghe hỏi liền đưa cây chổi cho ông:
“Quét giúp ta.”

Tạ Uyên ngẩn người.
Từ nhỏ đến lớn, ông đã từng cầm bút, cầm kiếm, cầm ấn quan… chưa từng cầm chổi tre. Nhưng vì trong lòng có việc, ông đành quét.

Quét được một lúc, gió lại thổi lá từ sân trên xuống.

Tạ Uyên cau mày:
“Lá rụng mãi thế này, quét đến bao giờ mới sạch.”

Không Chiếu đáp:
“Người đời cũng hỏi như ông. Danh chưa đủ thì cầu thêm danh. Quyền chưa cao thì muốn cao nữa. Vừa quét được một sân, gió đã mang đến một sân khác.”

Tạ Uyên dựa chổi vào gốc thông, thở dài:
“Nhưng không có quyền, người ta sẽ coi thường.”

“Có quyền thì người ta kính ông hay kính chiếc ấn trong tay ông.”

Câu ấy làm Tạ Uyên đứng lặng.

Thiền sư lại hỏi:
“Nếu ngày mai chiếc ấn thuộc về người khác, những cái cúi đầu hôm nay còn bao nhiêu cái dành cho ông.”

Tạ Uyên không đáp được.

Chiều hôm ấy, khi hai người sắp xuống núi, trời bỗng đổ mưa lớn. Lục Thành cũng đang ở chùa vì nghe nói kho phía tây có thể bị kiểm tra. Ông muốn xin thiền sư một quẻ lành, dù Không Chiếu chưa bao giờ xem quẻ.

Ba người trú mưa dưới mái hiên.

Đúng lúc ấy, một tiểu đồng từ dưới trấn chạy lên, mình mẩy lấm bùn, vừa thở vừa gọi:
“Lục lão gia, kho lụa cháy rồi.”

Lục Thành nghe xong, mặt trắng bệch. Ông đứng bật dậy, trượt chân suýt ngã khỏi bậc đá.

“Cháy kho nào.”

“Kho phía nam. Lửa bén từ nhà bếp… người ta đang cứu.”

Lục Thành chẳng kịp mặc áo mưa, lao xuống núi.

Tạ Uyên nhìn theo, trong lòng thoáng nghĩ: người giàu cũng chẳng tự do hơn ta.

Nhưng chưa hết.

Một lát sau, một sai dịch khác chạy đến, quỳ trước Tạ Uyên:

“Đại nhân, kinh thành có lệnh niêm phong công đường. Xin ngài lập tức giao ấn để chờ tra xét.”

Tạ Uyên nghe xong, bàn tay đang đặt trên lan can bỗng run lên. Ông muốn hỏi thật nhiều, nhưng cuối cùng chỉ nói:
“Ta hiểu rồi.”

Hai người, một kẻ mất kho, một người mất ấn, cùng lao xuống con đường núi trong mưa. Khi ấy chẳng ai còn nhớ người nào giàu hơn, người nào sang hơn.

Ba tháng sau, sự việc mới dần sáng tỏ.

Kho lụa của Lục Thành cháy mất hơn nửa, nhưng không có ai thiệt mạng. Điều lạ là trong đêm hỏa hoạn, người con trai vốn bị ông xem là ham chơi lại dẫn người phá cửa cứu hết gia nhân bị kẹt bên trong. Cậu còn lao vào khói lửa kéo người quản kho già ra ngoài, cánh tay bị bỏng nặng.

Lục Thành ngồi bên giường con ba ngày liền.

Lần đầu tiên ông nhận ra, lâu nay mình nhớ rõ từng cuộn lụa trong kho, nhưng chẳng biết con trai thích ăn món gì.

Ông cũng nhận ra số bạc cháy mất khiến mình đau, nhưng nhìn con nằm bất động lại đau hơn gấp trăm lần. Hóa ra có những thứ đáng giữ mà ông từng quên giữ, có những thứ cứ tưởng rất quý, đến lúc lửa cháy mới biết chỉ là tro.

Còn Tạ Uyên, sau cuộc tra xét, được chứng minh không liên quan đến án tham ô. Triều đình cho ông phục chức. Nhưng ông xin từ quan.

Người quen đều ngạc nhiên.

Có kẻ bảo ông giả thanh cao. Có người nói ông sợ liên lụy. Tạ Uyên không giải thích. Chỉ có ông biết, trong những ngày bị tước ấn, số người đến thăm mình ít đến đáng thương.

Thuộc hạ từng cúi đầu sát đất, giờ gặp ngoài đường lại giả vờ nhìn mây.

Chỉ có một người lính già đem đến túi khoai, ngồi trước cửa nói:

“Đại nhân ngày trước từng tha cho con tôi một lần. Nay nhà chẳng có gì, xin biếu ngài ít khoai.”

Tạ Uyên cầm túi khoai mà mắt đỏ hoe.

Chiếc ấn từng khiến trăm người cúi đầu, cuối cùng không quý bằng một túi khoai được trao bằng lòng thật.

Mùa xuân năm sau, Lục Thành và Tạ Uyên cùng lên chùa Tịch Vân.

Không Chiếu vẫn ngồi bên chiếc bàn cũ. Trên bàn vẫn là chiếc chén men xanh bị khuyết một góc.

Lục Thành vừa thấy đã bật cười:
“Thiền sư còn dùng chiếc chén này sao. Tôi xin cúng ngài một bộ chén ngọc.”

Không Chiếu hỏi:
“Chén ngọc có làm trà thơm hơn không.”

Lục Thành nghĩ một lúc:
“Có lẽ không.”

“Vậy giữ bạc mua thuốc cho người bị bỏng còn hơn.”

Lục Thành nhìn sang con trai đang đứng ngoài sân chẻ củi, khẽ gật đầu.

Tạ Uyên hỏi:
“Bạch thiền sư, có phải trời cao cố ý lấy đi một thứ để đổi lại một thứ khác không.”

Không Chiếu lắc đầu:
“Đừng vội đổ mọi được mất cho trời.”

Hai người ngạc nhiên.

Thiền sư nói tiếp:
“Có việc do nhân duyên, có việc do lựa chọn, có việc do lòng tham và sự sơ suất của chính mình. Kho cháy vì bất cẩn, không phải vì trời ghen người giàu. Quan mắc nạn vì chốn quan trường phức tạp, không hẳn do thiên đạo muốn phạt người có quyền.”

Ngài rót trà vào ba chiếc chén.

“Đạo lý không phải là hễ được tiền thì chắc chắn mất nhà, có quyền thì nhất định gặp họa. Nghĩ như thế cũng thành mê tín. Điều đáng hiểu là mọi thứ ta có đều kèm theo trách nhiệm, giới hạn và nguy cơ. Càng ôm nhiều, càng phải tỉnh thức nhiều.”

Lục Thành chậm rãi nói:
“Vậy đời người thật sự không thể viên mãn sao.”

Không Chiếu nhìn mây trắng trôi qua đỉnh núi:
“Nếu ông cho rằng viên mãn là có đủ giàu sang, quyền thế, vợ hiền, con tốt, trường thọ, không bệnh, không buồn… thì chẳng ai viên mãn.”

Ngài dừng lại một chút rồi nói tiếp:
“Nhưng nếu viên mãn là biết quý điều đang có, sửa điều có thể sửa, buông điều nên buông, không làm khổ mình và người, thì chiếc chén khuyết cũng có thể là chiếc chén tròn đầy.”

Tạ Uyên cười:
“Thì ra mấy tháng nay tôi mất chức, lại được uống trà ngon hơn lúc làm quan.”

Lục Thành cũng cười:
“Vì lúc làm quan, ngài chỉ uống trà bằng miệng, còn bây giờ uống bằng lòng.”

Không Chiếu nhìn hai người:
“Hôm nay các ông nói được vài câu giống người tu rồi đấy.”

Tạ Uyên hỏi đùa:
“Vậy có được miễn công quả không.”

Thiền sư lập tức chỉ ra sân:
“Không. Một người bổ củi, một người gánh nước.”

Cả hai cùng bật cười. Tiếng cười hòa với tiếng chuông chùa, rơi xuống triền núi, nghe nhẹ như một chiếc lá.

Về sau, Lục Thành xây lại kho nhỏ hơn trước. Ông không còn thức mỗi đêm để đếm khóa cửa. Số tiền dành dụm được, ông mở một gian thuốc cho người nghèo trong trấn. Việc buôn bán vẫn có lúc lời lúc lỗ, nhưng bữa cơm nhà ông đã đông đủ hơn.

Tạ Uyên không trở lại quan trường. Ông mở lớp dạy chữ cho trẻ con. Có đứa học mãi không thuộc, ông tức đến đỏ mặt, rồi chợt nhớ ngày xưa mình từng khiến cả công đường run sợ. Ông tự bật cười:
“Làm quan còn dễ hơn dạy trẻ.”

Cuộc đời của họ từ đó không phải chỉ có ngày vui.

Lục Thành vẫn có lúc bị người lừa. Tạ Uyên vẫn có đêm nhớ thời áo gấm. Con trai Lục Thành vẫn ham cưỡi ngựa, đôi khi còn làm gãy cả hàng rào nhà bên.

Nhưng họ đã thôi nhìn sang đời người khác để đo phần thiếu của mình.

Họ hiểu rằng nơi cao có gió lớn của nơi cao, chốn thấp có nước sâu của chốn thấp. Giàu sang không đáng trách, quyền thế cũng chẳng phải tai họa tự thân. Tai họa thường bắt đầu khi con người đem hết bình an đánh đổi cho lòng tham, lấy danh lợi làm thước đo duy nhất, rồi quên mất mình đang sống cùng ai, vì điều gì.

Một buổi chiều, chiếc chén men xanh vô tình rơi khỏi bàn, vỡ làm ba mảnh.

Tiểu đồng tiếc rẻ hỏi:
“Chiếc chén khuyết ấy quý lắm phải không, thưa thầy.”

Không Chiếu đang nhặt từng mảnh lên, nghe vậy liền đáp:
“Không quý.”

“Vậy sao thầy dùng nhiều năm.”

“Vì nó còn dùng được.”

“Bây giờ thì sao.”

Thiền sư cười:
“Bây giờ thì làm ba miếng kê chân bàn.”

Tiểu đồng ngơ ra rồi cũng cười.

Có những thứ nên giữ khi còn hữu ích. Có những thứ nên buông khi duyên đã tận. Giữ được mà không tham đắm, buông được mà không oán hờn… có lẽ đó mới là chỗ con người học cả đời vẫn chưa xong.

Thông điệp

Đời sống không phải một cuộc chia phần máy móc, rằng hễ có tiền thì phải gặp họa, hễ có quyền thì phải chịu tai ương. Tiền tài, địa vị, tài năng hay phúc duyên đều không tự nhiên tốt hoặc xấu. Chính cách con người nắm giữ chúng mới tạo nên bình an hay khổ lụy.

Không cần khước từ mọi thành tựu, cũng không nên dùng hai chữ “biết đủ” để che lấp sự lười biếng. Ta vẫn có thể làm việc, vun bồi sự nghiệp và sống có ước nguyện. Nhưng trong khi bước tới, cần nhớ rằng sức người có hạn, thời gian có hạn, tình thân cũng có lúc không còn chờ đợi.

Viên mãn không phải là chưa từng mất mát. Viên mãn là giữa những điều chưa trọn, ta vẫn giữ được lòng sáng, biết thương người, biết dừng đúng lúc và không đem cả cuộc đời đổi lấy những thứ cuối cùng chẳng thể mang theo.

Trăng tròn đâu thể mãi tròn
Hoa tươi rồi cũng héo mòn trước sân
Có danh xin giữ nghĩa nhân
Có tiền xin nhớ một phần sẻ chia
Được thì đừng vội kiêu kia
Mất rồi chớ để lòng lìa bình an
Hai tay ôm cả thế gian
Đến khi mỏi gối, muộn màng buông ra
Chén tuy khuyết vẫn đượm trà
Đời chưa toàn vẹn vẫn là đời vui
Biết dừng giữa cuộc đầy vơi
Tâm không vướng mắc, thảnh thơi đường về.

Thái Huyền
Tháng 5/ 2026
🌺🌸🌺🌸🌺

🙏🏻 Bản quyền câu chuyện thuộc về Thái Huyền. Khi sử dụng hoặc trích dẫn, vui lòng ghi rõ nguồn và tên tác giả.
🌺 Xin Bạn Đọc Lưu Ý :
Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính văn chương, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, Truyền Thông hay tin tức báo chí.
Xin Kính Tri Ân Quý Vị

( Một số hình ảnh sưu tầm trên mạng )

🙏🏻🌺🙏🏻🌺🙏🏻

Address

48 Sư Vạn Hạnh, Hoà Hải, Ngũ Hành Sơn
Da Nang
550000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Avalokitesvara Festival/ Lễ hội Quán Thế Âm - Marble Mountains Da Nang posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category